Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

THUỐC QUÝ TỪ NHỮNG NGUYÊN LIỆU NHÀ BẾP

- Hẹ (cửu thái): Vị cay, hơi chua, mùi đắng, tính ấm. Củ hẹ và lá hẹ thường dùng chữa ho, lỵ, giun kim, đau họng, hen suyễn.

THUỐC QUÝ TỪ NHỮNG NGUYÊN LIỆU NHÀ BẾP
Lá hẹ
Cách dùng: Hấp đường phèn với lá, củ hẹ giã nát, lấy nước, ngậm nuốt từ từ để chữa ho hen. Giã vắt nước cốt hẹ thụt hậu môn để trị giun kim khi giun xuống hậu môn.

- Bạc hà: Vị cay, thơm, tính mát, giúp phát tán phong nhiệt, hạ sốt; thường dùng chữa cảm, nhức đầu, dị ứng nổi mề đay, viêm họng có sốt, đàm vướng cổ, đau họng khản tiếng, say nắng, thúc sởi mau mọc.

- Hành: Vị cay, tính ấm, có tác dụng trừ phong, giải hàn tà, lợi khí, tiêu sưng; thường dùng chữa cảm cúm (nấu cháo hành, tía tô, tiêu, gừng ăn nóng để giải cảm cúm). Trị đau bụng do lạnh, đau răng, mụn nhọt, lợi tiểu, an thai.

- Diếp cá: Vị cay, chua, mùi hơi tanh, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, giải độc, tiêu ung thũng, lợi tiểu, điều kinh. Thường dùng chữa các loại viêm sưng, mụn nhọt, đau mắt đỏ, lòi dom, sốt xuất huyết, trĩ ra máu, kinh nguyệt không đều.

- Húng chanh: Vị cay, thơm, tính ấm, có tác dụng phát tán phong hàn, tiêu đàm, diệt khuẩn, tiêu độc trừ phong. Thường dùng làm thuốc chữa ho, cảm cúm, chữa kiến độc, bọ cạp và rết đốt (giã nát húng chanh đắp lên vết đốt, sẽ giảm đau nhức).

- Kinh giới: Vị cay, tính ấm, phát tán phong hàn, thông huyết mạch, thường dùng chữa cảm hàn, giải độc, cảm nhiễm gây đau nhức. Khi sao đen kinh giới thì nó có tác dụng cầm máu. Thường dùng để chữa đái ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam.

- Ngò (rau mùi): Vị cay thơm, tính ấm, kích thích tiêu hóa, chống tà khí, thông khí uất ở đường tiêu hóa. Thường dùng trị cảm lạnh, thúc ban sởi mau mọc. Hạt ngò dùng làm thuốc chữa tắc sữa, mặt bị nám, ban, sởi, lòi dom. Người bị hôi nách, hôi miệng, sưng chân không ăn ngò. Khi uống thuốc có các vị bạch truật, mẫu đơn bì thì kiêng ăn ngò.

- Rau ngổ: Vị cay thơm, mát, có tác dụng tiêu thực, cầm máu. Thường dùng để kích thích tiêu hóa, chữa băng huyết, thổ huyết, mụn nhọt viêm sưng.

- Mùi tàu: Vị cay thơm, tính ấm, có tác dụng thông khí, trừ hàn, tiêu thực. Thường dùng để chữa cảm mạo, ăn uống khó tiêu.

- Rau răm: Vị cay tính ấm, tiêu thực, kích thích tiêu hóa. Thường dùng khi ăn trứng vịt lộn, thịt bò, thịt gà, cháo trai, hến để giúp ngon miệng và làm ấm tỳ vị.

- Tía tô: Vị cay, tính ấm, phát tán phong hàn, giải độc, tiêu tích, hạ khí. Thường dùng để chữa cảm cúm, nhức đầu, ho, sốt, buồn nôn, ngộ độc cua cá; an thai, trừ đàm nhớt ở cổ họng. Tía tô còn được dân gian dùng chữa mụn cóc rất hiệu nghiệm: Lá tía tô rửa sạch, để khô đặt lên mụn, chà xát nhiều lần đến khi lá nát, hết nước thì bỏ đi và cũng không cần để ý đến mụn nữa. Vài ngày sau nhìn lại thì mụn bay hết lúc nào không biết.
Tác giả: Lương y Minh Chánh
Nguồn: Sức Khoẻ & Đời Sống

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

THẬN CŨNG HẾT SỨC QUAN TRỌNG

Khi thận có vấn đề, chạy thận nhân tạo sẽ là nỗi ám ảnh đáng sợ đối với bất cứ ai. Đó là lý do khiến chúng ta không thể không quan tâm đến thận. 

THẬN CŨNG HẾT SỨC QUAN TRỌNG
Uống đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày để giúp thận hoạt 




động tốt


Một chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đối với thận. Sau đây là một số gợi ý để bạn quan tâm quả thận của mình nhiều hơn.

Uống 8 ly nước mỗi ngày. Nước là nguồn duy nhất giúp thanh lọc cơ thể. Vì vậy hãy uống đủ nước để thận được khỏe mạnh và hoạt động trơn tru.

Không nín tiểu. Nín tiểu trong khi bàng quang căng đầy sẽ tạo nhiều áp lực cho thận. Vì thế, bạn cần đi “giải quyết” ngay khi có cảm giác muốn tiểu.

Đậu đen. Được xem là loại thực phẩm tốt cho thận vì chúng chứa ít phosphorous - chất vốn không tốt cho thận.

Lòng trắng trứng. Cũng giống như đậu đen, lòng trắng trứng chứa ít phosphorous, rất phù hợp với người có vấn đề về thận.

Hạt mè. Giúp tái tạo năng lượng cần để thận hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả hơn.

Mù tạt. Lá mù tạt chứa nhiều vitamin K, có thể hỗ trợ việc cung cấp máu đến thận.

Quả mọng sẫm màu. Những loại quả có màu tối có tác dụng tốt đối với thận. Những loại quả mọng như việt quất, nam việt quất và mâm xôi chứa nhiều chất chống ô xy hóa, có thể giúp khắc phục những tổn thương do ô xy hóa gây ra cho thận.

Rau mùi. Lá rau mùi có tác dụng làm sạch các bộ lọc của thận, nên chúng cần xuất hiện trong thực đơn của những người ý thức về sức khỏe thận.

Tránh thực phẩm nhiều gia vị. Ớt có thể không tốt cho thận của bạn. Thực phẩm quá nhiều gia vị sẽ gây áp lực lên gan và thận. Đó là lý do tại sao cần phải duy trì một mức độ gia vị vừa phải trong thực phẩm.

Nấu ăn bằng dầu ô liu. Dầu ô liu là một trong những chất béo lành mạnh nhất đối với thận. Các a xít béo omega 3 hiện diện trong dầu ô liu tạo thành một hàng rào bảo vệ xung quanh những tế bào thận.
Muối biển. Muối biển tốt cho thận do nó chứa nhiều khoáng chất. Chúng có hàm lượng sodium chloride thấp. Vì vậy, nếu bạn bị sỏi thận, tốt nhất nên dùng muối biển.

Bỏ hút thuốc. Chất cadmium hiện diện trong thuốc lá có thể bám lên thành thận, làm suy giảm chức năng thận và gây suy thận. Từ bỏ phì phèo rõ ràng không chỉ tốt cho phổi của bạn mà còn giúp thận hoạt động tốt.

Bớt caffeine. Caffeine không phải là chất thân thiện với thận. Uống quá nhiều cà phê có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận.
Các bài tập duỗi tay chân, yoga. Một số bài tập thể dục kéo duỗi tay chân đơn giản có thể giúp tăng cường chức năng thận. Tương tự, những tư thế yoga cũng có thể tạo điều kiện để thận hoạt động hiệu quả hơn.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

THẬT GIẢ KHÓ PHÂN BIỆT


Mật ong
Nhận dạng: đó là một chất lỏng, sánh, màu trắng đục, vàng nhạt hoặc vàng sẫm, thơm đặc trưng của mùi mật ong, vị ngọt dịu, để lâu thành ngọt đậm, khé cổ, có đường kết tinh ở dưới gọi là châu.

Cách thử để phát hiện thật giả
Nhỏ vài giọt mật ong lên giấy thấm hoặc giấy bản, nếu là mật ong thật sẽ không có vết loang xung quanh giọt mật. Ngược lại, vết loang nhanh và rộng là mật có pha trộn.

Nhỏ một giọt mật ong vào cốc nước trong, nếu giọt mật lắng ngay xuống đáy cốc với hình dạng nguyên vẹn là mật ong thật.

Lấy một phần mật ong hòa đều với phần nước lọc, để yên. Mật ong nguyên chất phải có dung dịch trong suốt. Nếu bị pha trộn, mật sẽ có cặn lắng dưới đáy dung dịch.

Nhỏ vài giọt iod vào mật ong, khuấy đều. Mật nguyên chất không biến màu. Nếu bị trộn nước cháo hoặc nước cơm, mật sẽ có màu xanh lơ; nếu có màu đỏ là mật đã lẫn nước màu.

Xạ hương
Nhận dạng: túc xạ có hình cầu hoặc hình bầu dục, tròn hoặc dẹt, đường kính 3,5-6cm, nặng 30-60g tùy theo tuổi của hươu xạ. Miệng túi hơi phẳng, có nhiều lông mịn, màu trắng hoặc nâu xám, mọc rất sít nhau hoặc áp sát thành hình khoáy, ở giữa có một lỗ nhỏ, đường kính 5mm, khi cạo sạch lông thì phần da ở đó có màu nâu. Mặt ngoài của túi màu nâu đen, không có lông, có tính co giãn. Mặt trong có lớp màng da ở giữa trong suốt, màu tro bạc, lớp màng da ở trong màu đỏ nâu. Trong cùng là chất xạ (xạ hương) ở dạng quánh đặc như sữa, khi khô thành bột hoặc thành hạt lổn nhổn với kích thước không đều, bóng, có mùi thơm hắc rất đặc biệt, để lâu không mất mùi.

Ở dạng bột, chất xạ màu vàng nâu, nâu đỏ hay đỏ tím, chất mềm có dầu. Lấy tay ve tròn, bột tụ lại nhưng không dính vào nhau thành khối. Khi mở tay ra, bột lại tả rời ngay. Ở dạng hạt (tốt hơn), hình tròn hay dẹt, phần lớn có màu đen tím, có vân mờ sáng bóng.
THẬT GIẢ KHÓ PHÂN BIỆT
Xạ hương
Cách thử để phát hiện thật giả
Xạ hương nguyên chất có mùi thơm hắc rất mạnh, bền, pha loãng thì mùi trở nên dịu hơn và rất dễ chịu.

Lấy ít xạ hương cho vào bát nước nóng, thấy tan ngay, không có cặn, dung dịch có màu vàng nhạt, mùi thơm nồng nặc.

Cho xạ hương vào lửa thấy lách tách, lóe sáng, mùi thơm mạnh, sau để lại những nốt dầu trong.

Trộn với camphor, vilerian, tinh dầu tràm, acid hydrocyamic, xạ hương sẽ mất hết mùi đặc trưng của nó.

Mật gấu (hùng đởm)
Nhận dạng: túi mật có hình trứng dẹt, to nhỏ không đều, phần miệng thuôn nhỏ hẹp, phần đáy phình to, thường dài 10-20cm, rộng 5-8cm. Mặt ngoài nhẵn, màu nâu xám hoặc đen xám, có những nếp gấp còn bám lớp màng mỏng mỡ thịt. Khi soi túi ra ánh sáng, thấy phần trên trong suốt, phần giữa và phần đáy có màu sẫm. Nếu cắt mở túi, sẽ thấy nước mật khô gọi là “đởm nhân” ở dạng cục, khối, dạng hạt lổn nhổn hoặc dạng sánh đặc màu sẫm nhạt không đều, óng ánh, mùi thơm dịu.

Chất mật là thứ “đởm nhân” trong, phách, chất xốp giòn, vị đắng, sau ngọt gọi là “kim đởm”, “đồng đởm” hay “thiết đởm”. Thứ màu lục vàng, ít óng ánh, chất kém giòn là “thái hoa đởm”.

Dược liệu tốt là thứ túi to, “đởm nhân” màu vàng kim loại, óng ánh, vị đắng, sau ngọt; “đởm nhân” màu lục vàng, vị đắng, sau không thấy ngọt là loại kém.

Cách thử để phát hiện thật giả
Dùng phương pháp hóa học để phân lập acid ursodesoxycholic (chỉ có trong mật gấu), rồi thử các tính chất đặc trưng của acid này như độ chảy (202o), độ quay cực (+57o07), phản ứng màu (đỏ với dung dịch acid ursodesoxycholic trong nước, đường và acid sulfuric đặc; xanh lục với dung dịch acid ursodesoxycholic trong chloroform, acetic anhydrid và acid sulfuric đặc.

Lấy ít mật gấu nghiền nát, cho vào cốc nước, mật sẽ quay tròn và lắng dần thành những sợi vàng thòng thẳng xuống đáy cốc mà không lan tỏa ra.

Láng qua nước lã cho ướt lên mặt một cái đĩa, rồi lấy một ít mật gấu đặt vào giữa đĩa, nước sẽ tách ra khỏi mật.

Nếm mật gấu lúc đầu thấy đắng, sau ngọt mát và dính lưỡi, ngậm lâu sẽ tan hết, mùi thơm nhẹ và không tanh.

Đem mật gấu đốt lửa, không thấy cháy, chỉ thấy sủi bọt.

Sừng tê giác
Nhận dạng: dược liệu có hình chùy tròn, hoặc hơi có cạnh, đầu múp tẩy hoặc nhọn và hơi xiên, dài 20-25cm, mặt ngoài màu đen, nhạt dần về phía dưới. Đế sừng có răng cưa nhỏ gọi là “mã nha biên” lồi lõm không đều. Quanh mã nha ở phần giữa, có những vân dọc và gai cứng thẳng chưa gọt hết gọi là “cương mao”. Đầu sừng nhỏ, nhẵn bóng, mặt trước có một rãnh dọc, dài 12-16cm, dưới đó có một u lồi gọi là “địa cương” dài khoảng 8cm, cao 4cm. Đế sừng to, hình tròn dài, phía trước hẹp, phía sau rộng hình mai rùa, dài 16-24cm, rộng 12-16cm, màu xám đen hoặc nâu đen, nhạt dần ra phía ngoài thành nâu xám hoặc vàng xám, đáy lõm sâu khoảng 0,4-0,8cm, có nhiều chấm tròn dày đặc gọi là “sa-đê”, chất sừng cứng, rắn và nặng, thớ dọc đều. Không có thớ vặn. Phiến chẻ có màu trắng xám, điểm lấm tấm như hạt vừng hoặc có những đường chỉ nhỏ ngắn.

Loại sừng tốt có màu đen bóng, không nứt, sa-đê tròn to, mùi thơm nhẹ.
Tác giả: DS. CK2. Đỗ Huy Bích
Nguồn: www.suckhoedoisong.vn

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ KHI DÙNG THỰC PHẨM


Những điểm tương đồng trong quan điểm về ăn uống (ẩm thực) của y học hiện đại (YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT):
Có thể nói, về mặt nguyên tắc, quan điểm về ẩm thực của hai nền y học là hoàn toàn thống nhất. Cụ thể:

- Nếu YHHĐ, hay nói đúng hơn là dinh dưỡng học hiện đại (DDHHĐ) khuyên chúng ta nên thực hành một chế độ ăn đủ chất và cân đối thì YHCT hay nói đúng hơn là dinh dưỡng học cổ truyền (DDHCT), cũng khuyên người ta phải “bình hành thiện thực”, nghĩa là: ăn uống phải hữu điều, phải cân bằng. Cân bằng giữa số lượng và chất lượng; giữa ngũ cốc (lương thực), ngũ súc (thịt cá), ngũ thái (các loại rau củ) và ngũ quả (các loại hoa quả); giữa hàn và nhiệt; giữa các ngũ vị: chua, cay, đắng, mặn và ngọt. Ở đây, cũng cần phải nói rõ là, các khái niệm “hàn”, “nhiệt”, “cay”, “ngọt”... thực chất chỉ là những danh từ có ý nghĩa khái quát nhằm để chỉ những nhóm đặc tính chung của đồ ăn thức uống.

NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ KHI DÙNG THỰC PHẨM
Rau kinh giới không nên ăn với cá diếc.
- Nếu DDHHĐ khuyên nên ăn uống hợp lý, tùy theo tuổi, giới và thể chất thì DDHCT cũng khuyên nên ẩm thực theo nguyên tắc chỉnh thể, hay còn gọi là nguyên tắc “nhân nhân, nhân địa, nhân thời chế nghi”. Nghĩa là: ăn uống phải tùy theo đặc điểm sinh lý của từng cá thể (nhân nhân), tùy theo điều kiện địa lý, môi trường sống (nhân địa) và tùy theo mùa, theo thời gian (nhân thời).

- Nếu DDHHĐ khuyên nên ăn theo chế độ bệnh lý thì DDHCT cũng khuyên trong ẩm thực nên “biện chứng thi trị”, “biện bệnh thi trị”, nghĩa là: phải căn cứ vào tính chất bệnh lý và chứng trạng cụ thể mà lựa chọn chế độ ăn cho phù hợp. Ví như, người mắc bệnh “tiêu khát” (đái đường) rất cần xây dựng một chế độ ăn riêng, nhưng để đạt hiệu quả tốt nhất thì lại phải tùy theo từng thể bệnh mà gia giảm đồ ăn thức uống cho hợp lý.

Cơ sở khoa học cho vấn đề kiêng kỵ trong ăn uống:
Cổ nhân cho rằng: “Dân dĩ thực vi tiên”, ăn uống là chuyện hết sức quan trọng, ăn để cung cấp “tinh hậu thiên” cho nhân thể nhằm giúp cho “tinh tiên thiên” (vốn dĩ được bẩm thụ từ tinh cha huyết mẹ) ngày càng phát triển và khỏe mạnh. Nhưng cổ nhân cũng cho rằng: “bệnh tòng khẩu nhập” (bệnh theo đường miệng mà vào), cho nên vấn đề kiêng kỵ trong ăn uống là rất cần thiết nhằm mục đích không ngừng nâng cao sức khỏe và tích cực phòng chống bệnh tật. Cũng bởi vậy mà YHCT đã xếp yếu tố “ẩm thực bất điều” (ăn uống không hợp lý) là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh tật thuộc vào nhóm được gọi là “bất nội ngoại nhân” cùng với hai nhóm khác nhau là “nội nhân” và “ngoại nhân”.

Cũng như Đông y, DDHCT luôn tuân thủ quan điểm chỉnh thể và biện chứng luận trị. Theo đó, cơ thể con người phải luôn luôn giữ thế cân bằng động giữa âm và dương, giữa hàn và nhiệt, giữa bên trong và bên ngoài..., cho nên bất cứ thuốc hoặc đồ ăn thức uống nào khi đưa vào cơ thể cũng phải lựa chọn cẩn thận để không làm mất thế cân bằng sinh tử này. Và nếu như cơ thể không may bị bệnh, nghĩa là sự thiên thịnh hay thiên suy đang hiện diện, thì việc “biện chứng” để “luận trị” bằng thuốc hoặc thức ăn nhằm lập lại thế cân bằng là điều rất cần thiết. Khi đó, chuyện nên ăn thứ này, nên kiêng thứ kia là hoàn toàn dễ hiểu.

Nội dung kiêng kỵ trong ăn uống của YHCT
Thực ra, YHHĐ cũng đề cập tới ăn kiêng, ví dụ: người bị bệnh xơ gan nên kiêng thức ăn có nhiều mỡ, kiêng bia rượu; người bị viêm loét dạ dày kiêng ăn đồ cay chua; người bị tăng huyết áp kiêng ăn nhiều muối... Tuy nhiên, vấn đề ăn kiêng trong YHCT có nội dung phong phú hơn nhiều, thể hiện cụ thể trên các phương diện sau đây:

- Kiêng ăn về số lượng: không nên ăn quá no, quá nhiều và cũng không nên để quá đói.

- Kiêng ăn thiên lệch: không ăn quá nhiều thứ gì đó.

- Kiêng kỵ khi bị bệnh: tùy theo đặc điểm và tính chất của từng loại bệnh và thể bệnh mà tiến hành kiêng kỵ cho hợp lý.

- Kiêng kỵ theo thể chất, tuổi và giới.

- Kiêng kỵ theo mùa và thời tiết.

- Kiêng các thức ăn biến chất, thiếu vệ sinh.

- Kiêng kỵ khi phối hợp thực phẩm và thực phẩm, ví như: cá diếc kỵ gan lợn và kinh giới, thịt gà kỵ mận, thịt dê kỵ dấm và bí đỏ...

- Kiêng kỵ khi phối hợp thuốc và thực phẩm, ví như: khi uống thuốc có thục địa thì kiêng ăn cà rốt, hành và hẹ; khi uống thuốc có cam thảo thì kiêng ăn rau cải; khi uống thuốc có thiên môn thì kiêng ăn cá chép...

Một số điều cần kiêng kỵ trong ăn uống hàng ngày
Kiêng kỵ theo mùa: mùa hạ dương khí vượng thịnh, thời tiết nóng bức nên kiêng các thức ăn có tính nhiệt như thịt chó, thịt dê, ớt, hạt tiêu, gừng, quế, hồi...; mùa đông lạnh lẽo nên kiêng các thức ăn có tính lạnh như cua, ốc, dưa hấu, dưa chuột, trai, hến...

Kiêng kỵ theo thể chất: người có thể chất thiên nhiệt nên kiêng các thức ăn quá cay nóng, người có thể chất thiên hàn nên kiêng ăn các thức ăn quá lạnh. Người đàm trệ nên kiêng đồ ăn thức uống quá béo bổ...

Kiêng kỵ theo tuổi: trẻ em nên kiêng đồ ăn thức uống sống lạnh vì dễ gây thương tổn tỳ vị, người già nên kiêng ăn thức ăn quá béo, quá ngọt hoặc quá mặn...

Kiêng kỵ theo giới: phụ nữ có thai nên kiêng các thức ăn có tính chất quá cay nóng, dễ kích thích hoặc quá sống lạnh, phụ nữ sau khi sinh con nên kiêng các thức ăn có tính lạnh...

Kiêng kỵ theo bệnh: người bị viêm loét dạ dày tá tràng và viêm đại tràng mạn tính thể tỳ vị hư hàn kiêng ăn đồ sống lạnh; người bị liệt dương thể âm hư nên kiêng ăn các thực phẩm có tính cay nóng như thịt chó, thịt dê, gừng, tỏi, rượu trắng..., người hay bị mụn nhọt cũng nên kiêng ăn các loại thức ăn này
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

CHIM CÚT LÀM THUỐC

Thịt chim cút có tác dụng bổ hư ích khí, thanh lợi thấp nhiệt. Dùng cho các chứng lao, suy nhược, tiêu chảy, kiết lỵ, suy dinh dưỡng và phong thấp.
CHIM CÚT LÀM THUỐC
Chim cút tốt cho sức khỏe mà bạn không ngờ

Trứng chim cút: Bổ ngũ tạng, bổ trung ích khí. Dùng cho các trường hợp sau khi bị bệnh lâu ngày làm khí huyết hư nhược, tiêu hoá kém, sản phụ sau đẻ bị suy nhược.

Chú ý: người đang bị cảm sốt, nhiều đàm không nên dùng chim cút.

Do tác dụng bổ dưỡng tăng lực rõ rệt nên ở Trung Quốc, có nơi gọi chim cút là nhân sâm động vật. Chim cút được chế biến các món ăn để chữa bệnh như sau:

Chim cút xào măng: Chim cút 100g (đã được làm sạch, bỏ ruột), măng tre 30g, mộc nhĩ 12g (ngâm mềm, rửa sạch), dưa chuột 12g. Đặt xoong trên bếp nóng, cho dầu, thả thịt chim cút vào rán chín, cho thêm nước hàng, bột đậu, măng, nấm, dưa chuột (đã thái lát), xào chín toàn bộ, cho ít bột ngọt, nếm vừa là được. Dùng cho người khí huyết hư nhược, tiêu hoá kém.

Chim cút hầm đậu đỏ: Chim cút 4 - 5 con (làm sạch bỏ ruột), đậu đỏ (tiểu đậu) 100g, gừng tươi 15g (gọt vỏ đập giập) tất cả hầm nhừ, thêm gia vị. Dùng cho người bị tiêu chảy, kiết lỵ.

Chim cút chiên dầu mè: Chim cút làm sạch (4 - 5 con), tẩm bột trứng gà và lá mơ băm nhỏ, dùng dầu mè để chiên. Dùng cho các trường hợp suy nhược, hư lao thở gấp, mỏi mệt, tiêu chảy, kiết lỵ lâu ngày ăn kém, người cao tuổi suy kiệt.

Chim cút hầm kỷ tử đỗ trọng: Chim cút 3 - 5 con (làm sạch), kỷ tử 30g, đỗ trọng 15g, hầm nhừ, vớt bỏ bã thuốc thêm gia vị. Dùng cho các trường hợp phong thấp, thoái hoá khớp, đau lưng mỏi gối, mệt mỏi, thở gấp.

Chim cút, cật lợn: Chim cút 3 - 5 con, gạo tẻ 150g, đậu đỏ 60g, bầu dục (cật lợn) 200g (thái lát). Tất cả nấu cháo, thêm gia vị. Dùng cho các trường hợp ho lao, mệt mỏi thở gấp, rối loạn tiêu hoá, ăn kém, viêm thận phù nề, đau lưng mỏi gối, suy kiệt và thiểu dưỡng.

Chim cút tiềm đông trùng hạ thảo: Chim cút 3 - 5 con. Mỗi con chim cút đã làm sạch, cho 1 con trùng thảo vào bụng, khâu lại, thêm gia vị hầm nhỏ lửa cho chín nhừ. Dùng cho các trường hợp ho lao, hen suyễn, khái huyết, mệt mỏi thở gấp; đau lưng mỏi gối, mệt mỏi ăn kém.

Trứng chim cút, bạch cập: Bạch cập tán bột mịn (liều lượng thích hợp để sẵn). Trứng chim cút 3 quả (bỏ vỏ), khuấy đều với bột bạch cập, thêm nước sôi, uống vào các buổi sáng, một đợt vài ba tuần. Dùng cho các trường hợp lao phổi khái huyết.

Trứng chim cút hầm sâm qui đại táo: Trứng chim cút 3 quả, đảng sâm 15g, đương qui 12g, đại táo 10 quả. Hầm nhừ. Dùng cho các trường hợp dưỡng bệnh sau thời kỳ nằm viện, sản phụ sau khi sinh con, suy nhược thần kinh.

Cháo trứng cút: Cháo trắng (gạo tẻ hoặc gạo nếp) 1 tô, trứng chim cút 1 - 2 quả. Dùng cho trẻ em suy dinh dưỡng, người thể trạng suy nhược. (nên ăn vào buổi sáng hoặc buổi tối).

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

BÍ QUYẾT CHĂM SÓC THẬN

Khi thận có vấn đề, chạy thận nhân tạo sẽ là nỗi ám ảnh đáng sợ đối với bất cứ ai. Đó là lý do khiến chúng ta không thể không quan tâm đến thận. 

BÍ QUYẾT CHĂM SÓC THẬN
Uống đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày để giúp thận hoạt 




động tốt


Một chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đối với thận. Sau đây là một số gợi ý để bạn quan tâm quả thận của mình nhiều hơn.

Uống 8 ly nước mỗi ngày. Nước là nguồn duy nhất giúp thanh lọc cơ thể. Vì vậy hãy uống đủ nước để thận được khỏe mạnh và hoạt động trơn tru.

Không nín tiểu. Nín tiểu trong khi bàng quang căng đầy sẽ tạo nhiều áp lực cho thận. Vì thế, bạn cần đi “giải quyết” ngay khi có cảm giác muốn tiểu.

Đậu đen. Được xem là loại thực phẩm tốt cho thận vì chúng chứa ít phosphorous - chất vốn không tốt cho thận.

Lòng trắng trứng. Cũng giống như đậu đen, lòng trắng trứng chứa ít phosphorous, rất phù hợp với người có vấn đề về thận.

Hạt mè. Giúp tái tạo năng lượng cần để thận hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả hơn.

Mù tạt. Lá mù tạt chứa nhiều vitamin K, có thể hỗ trợ việc cung cấp máu đến thận.

Quả mọng sẫm màu. Những loại quả có màu tối có tác dụng tốt đối với thận. Những loại quả mọng như việt quất, nam việt quất và mâm xôi chứa nhiều chất chống ô xy hóa, có thể giúp khắc phục những tổn thương do ô xy hóa gây ra cho thận.

Rau mùi. Lá rau mùi có tác dụng làm sạch các bộ lọc của thận, nên chúng cần xuất hiện trong thực đơn của những người ý thức về sức khỏe thận.

Tránh thực phẩm nhiều gia vị. Ớt có thể không tốt cho thận của bạn. Thực phẩm quá nhiều gia vị sẽ gây áp lực lên gan và thận. Đó là lý do tại sao cần phải duy trì một mức độ gia vị vừa phải trong thực phẩm.

Nấu ăn bằng dầu ô liu. Dầu ô liu là một trong những chất béo lành mạnh nhất đối với thận. Các a xít béo omega 3 hiện diện trong dầu ô liu tạo thành một hàng rào bảo vệ xung quanh những tế bào thận.
Muối biển. Muối biển tốt cho thận do nó chứa nhiều khoáng chất. Chúng có hàm lượng sodium chloride thấp. Vì vậy, nếu bạn bị sỏi thận, tốt nhất nên dùng muối biển.

Bỏ hút thuốc. Chất cadmium hiện diện trong thuốc lá có thể bám lên thành thận, làm suy giảm chức năng thận và gây suy thận. Từ bỏ phì phèo rõ ràng không chỉ tốt cho phổi của bạn mà còn giúp thận hoạt động tốt.

Bớt caffeine. Caffeine không phải là chất thân thiện với thận. Uống quá nhiều cà phê có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận.
Các bài tập duỗi tay chân, yoga. Một số bài tập thể dục kéo duỗi tay chân đơn giản có thể giúp tăng cường chức năng thận. Tương tự, những tư thế yoga cũng có thể tạo điều kiện để thận hoạt động hiệu quả hơn.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

PHÒNG NGỪA NGỘ ĐỘC NẤM

Nhưng không hẳn nấm nào cũng ăn được. Nếu không biết cách nhận diện, quen với mỗi loại nấm lành và nấm độc, người ăn nấm chỉ sau nửa giờ sẽ bị ngộ độc, nôn mửa dẫn đến tử vong do không kịp cấp cứu.
PHÒNG NGỪA NGỘ ĐỘC NẤM
Cây nấm
Để phòng ngừa ngộ độc nấm, chúng ta cần phân biệt như sau:

- Nấm làm thuốc chữa bệnh gồm: nấm phục linh, linh chi và nấm lim.

- Người tạng yếu, dạ dày bị viêm loét, dị ứng nấm tuyệt đối không nên ăn nấm dù loại lành hay làm thuốc.

- Không nên hái nấm non, mới nhú chồi (kể cả nấm rơm, nấm hương) để ăn, vì nấm non dễ bị chất phalin rất độc chưa bị hủy, thường hay gặp ở chồi vừa nhú khỏi mặt đất.

- Phụ nữ có thai không nên ăn nấm vì khó biết nấm độc hay lành. Khi phụ nữ có thai dù cứu được mẹ, thai nhi cũng bị ảnh hưởng, có thể bị độc tố gây dị tật hay tử vong.

- Nếu có người thân ngộ độc nấm, làm ngay động tác móc họng cho nôn.

Người cùng ăn chưa có biểu hiện ngộ độc cũng phải lập tức gây nôn.

- Cách cấp cứu sơ bộ là sau khi gây nôn, cần cho nạn nhân uống nước râu bắp và thêm một muỗng canh muối (nếu không có râu bắp thì pha đậu xanh với đường, nước mía cũng giải độc), sau đó đưa đi bệnh viện.

- Triệu chứng ngộ độc thấy rõ nhất là: hạ huyết áp, mạch chậm, khó thở hoặc thở nhanh. Tứ chi co giật, miệng méo, mắt đỏ hoặc vàng nghệ do bị tổn thương gan, máu não thiếu. Sốt nhẹ, chảy nước mắt, mũi, nước dãi trào ra miệng.

Dưới đây là các loại nấm độc cần nên biết để tránh:

- Ammanita pantheria (nấm màu nâu lốm đốm trắng, đỏ như da báo) chứa độc tố cholin.

- Ammanita philloides (mũ màu xanh thẫm lốm đốm chấm đen) thường mọc ven ở ruộng, rừng ẩm thấp, nơi có phân chó, mèo và thân cây mục.

Độc tố phalin cực mạnh, chỉ ăn 5g sau 30 phút, da tươm máu, mê sảng, người co giật, tiêu ra phân thối lẫn máu khi chưa kịp cấp cứu.

Khi mua nên tránh loại nấm không rõ nguồn gốc.
Tác giả: Đông y sĩ Kiều Bá Long