Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

NƯỚC GỪNG NÓNG CÓ THỂ LÀM MỜ TÀN NHANG

Trị mụn, mờ tàn nhang

Pha và nước rửa mặt một ít nước gừng nóng sáng hoặc tối, mỗi ngày một lần, trong 60 ngày có thể dứt mụn. Với những ai có tàn nhang, đốm đen trên mặt, da khô cũng có tác dụng nhất định.
Gừng trị bệnh
Chữa ho, đau đầu

Khi bị ho, đau đầu, cảm sốt, cảm lạnh… mỗi tối ngâm chân với nước gừng nóng (có thể thêm chút muối, giấm) sẽ thấy hiệu quả trong ba ngày. Cách này còn là bí quyết loại bỏ mùi hôi ở chân.

Trị đau họng

Viêm họng và khổ sở với những cơn ho kéo dài, mỗi sáng và tối hãy súc miệng với nước gừng nóng thêm chút muối.

Trị gàu

Sau khi gội xong, hãy xả tóc và matxa da dầu với nước gừng nóng, sẽ có tác dụng trị gàu hiệu quả. Thường xuyên dùng cách này mỗi khi gội đầu cũng là bí quyết ngăn và chữa hói.

Ngăn xơ vữa động mạch

Mỗi buổi sáng và tối súc miệng với nước gừng nóng và uống một cốc trước khi ngủ có thể thúc đẩy tuần hoàn máu, ngăn xơ vữa động mạch.

Nguồn: Theo DanViet

MỘT SỐ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY HẸ

Cây rau hẹ còn có tên gọi là cửu thái, khởi dương thảo... là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 20-40 cm, giàu dược tính và có mùi thơm rất đặc trưng, không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn…, mà còn là cây thuốc chữa được nhiều bệnh.

Cây rau hẹ rất dễ trồng và ít phải chăm sóc. Chỉ cần gieo hoặc trồng bằng cây con một lần, là có thể thu hoạch nhiều lứa, nhiều năm. Cây phát triển tốt quanh năm, vừa có thể làm rau ăn, vừa có thể dùng làm thuốc những khi cần thiết.

Theo Đông y, cây rau hẹ có tác dụng làm thuốc cụ thể, lá hẹ để sống có tính nhiệt, nấu chín thì ôn, vị cay; vào các kinh Can, Vị và Thận. Có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ và giải độc. Thường dùng chữa ngực đau tức, nấc, ngã chấn thương,... Gốc rễ hẹ có tính ấm, vị cay, có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ, thường dùng chữa ngực bụng đau tức do thực tích, đới hạ, các chứng ngứa,... Hạt hẹ có tính ấm, vị cay ngọt; vào các kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, Thận, tráng dương, cố tinh. Thường dùng làm thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần, mộng tinh, di tinh, lưng gối yếu mềm.

Hẹ hấp mật ong có tác dụng chữa ho.
Một số tác dụng chữa bệnh của cây hẹ
Chữa cảm mạo, ho do lạnh: Lá hẹ 250g, gừng tươi 25g, cho thêm ít đường hấp chín, ăn cái, uống nước. Dùng liền 5 ngày.

Chữa nhức răng: Lấy một nắm hẹ (cả rễ), rửa sạch, giã nhuyễn đặt vào chỗ đau, đặt liên tục cho đến khi khỏi.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Hàng ngày sử dụng từ 100-200g rau hẹ, nấu cháo, nấu canh hoặc xào ăn. Không dùng muối hoặc chỉ dùng một chút muối khi chế biến món ăn. 10 ngày một liệu trình. Hoặc dùng củ rễ hẹ 150g, thịt sò 100g, nấu canh ăn thường xuyên. Có tác dụng tốt đối với bệnh đái tháo đường đã mắc lâu ngày, cơ thể đã suy nhược.

Nhuận tràng, trị táo bón: Hạt hẹ rang vàng, giã nhỏ, mỗi lần uống 5g. Hòa nước sôi uống ngày 3 lần, dùng liền 10 ngày.

Chữa chứng đái dầm ở trẻ em: Nấu cháo gạo 50g, dùng 25g rễ hẹ vắt lấy nước cho vào cháo đang sôi, thêm ít đường, ăn nóng, dùng liên tục trong 10 ngày.

Chữa ho trẻ em do cảm lạnh: Lấy lá hẹ xắt nhỏ trộn với đường phèn hoặc mật ong vào cùng một chén, sau đưa chén vào nồi cơm hấp chín. Cho trẻ uống dần trong ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Dùng liền 5 ngày.

Giúp bổ mắt: Rau hẹ 150g, gan dê 150g, gan dê thái mỏng, ướp gia vị vừa xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho gia vị vừa đủ, ăn với cơm, cách ngày ăn một lần, 10 ngày một liệu trình.

Hỗ trợ điều trị xuất tinh sớm: Rau hẹ 200g, tôm nõn 200g, xào ăn với cơm.
Chữa đau lưng, gối mỏi, ăn uống kém: Hạt hẹ 20g, gạo 100g, nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần. 10 ngày một liệu trình

Tác giả: Lương y Nguyễn Hữu
Nguồn: suckhoedoisong.vn

CÁCH DÙNG MỘC NHĨ ĐEN PHÒNG, TRỊ BỆNH

Mộc nhĩ 15 - 30g, ngâm nước ấm cho nở hết cỡ rồi rửa sạch, hầm nhừ, chế thêm một chút đường trắng, ăn trong ngày. Công dụng: dưỡng âm chỉ huyết, thường dùng để phòng chống các chứng xuất huyết.
Mộc nhĩ đen trị bệnh
Mộc nhĩ 60g, huyết dư thán 10g. Mộc nhĩ sao tới khi bốc khói là được, hai thứ tán bột, trộn đều, mỗi ngày uống 6 - 10g với nước ấm hoặc có pha một chút dấm thanh. Công dụng: tán ứ chỉ huyết, dùng cho phụ nữ bị băng lậu (băng kinh; rong kinh).

Mộc nhĩ 5g, đại táo 5 quả, gạo tẻ 100g, đường phèn vừa đủ. Mộc nhĩ ngâm nước ấm, rửa sạch; đại táo bỏ hạt. Hai thứ đem nấu với gạo thành cháo, chế thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: tư âm nhuận phế, kiện tỳ chỉ huyết, bổ não cường tim và kháng ung, dùng thích hợp cho những người bị ho lâu ngày, cơ thể suy nhược, thổ huyết, kinh nguyệt không đều, tăng huyết áp, bệnh mạch vành tim, vữa xơ động mạch, ung thư...

Mộc nhĩ 60g, vừng đen 15g. Mộc nhĩ một nửa sao cháy, một nửa sao khô, vừng đen sao thơm, tất cả tán vụn trộn đều, mỗi ngày lấy 6g hãm với 120ml nước sôi, uống thay trà. Công dụng: tư bổ can thận, kiện não ích trí, dùng lâu rất có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần.

Mộc nhĩ 200g, hồng táo 100g, đường phèn 250g. Mộc nhĩ ngâm nước ấm cho nở hết, rửa sạch, đem hầm với hồng táo trong 2.000ml nước cho thật nhừ, chế thêm đường phèn, chia làm 7 phần, mỗi ngày ăn 1 phần, chia 2 lần sáng và chiều. Công dụng: bổ thận chỉ huyết, dùng cho phụ nữ xuất huyết tử cung cơ năng thuộc thể thận hư.

Mộc nhĩ 15g, hồng táo 30 quả. Hai thứ đem hầm nhừ, ăn trong ngày. Công dụng: dưỡng huyết điều kinh, dùng cho người bị thiếu máu và phụ nữ bị băng lậu và khí hư.

Mộc nhĩ 30g, đường đỏ 20g. Mộc nhĩ ngâm nước ấm, rửa sạch, nấu nhừ rồi cho đường đỏ vào, đánh nhuyễn, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: lương huyết chỉ huyết, giáng áp, dùng thích hợp cho những người bị xuất huyết tử cung cơ năng và tăng huyết áp.

Mộc nhĩ và biển đậu lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9g, có công dụng phòng chống bệnh tiểu đường.

Mộc nhĩ 30g, hoa hiên 120g, đường trắng vừa đủ. Hai thứ rửa sạch, nấu thành canh, chế thêm đường, ăn nóng. Công dụng: lợi thủy thông lâm, dùng cho người bị đái ra máu (huyết lâm).

Mộc nhĩ 6g, thịt lợn nạc 50g, phật thủ 9g, ý dĩ 20g. Mộc nhĩ ngâm nước ấm, rửa sạch; thịt lợn thái miếng; phật thủ thái phiến. Tất cả đem nấu thành canh ăn trong ngày. Công dụng: tuyên tý thông dương, hoạt huyết hóa ứ, dùng cho những người bị bệnh lý động mạch vành tim.

Mộc nhĩ 20g, ngâm nước ấm, rửa sạch, nấu với 20g đường phèn lấy nước uống trong ngày hoặc nấu cháo với gạo nếp và hạt sen mà ăn để phòng chống bệnh viêm phế quản mạn tính và chứng giảm bạch cầu trong máu ngoại vi.

Mộc nhĩ 5g, đậu phụ 200g, hai thứ nấu thành canh ăn thường xuyên hoặc mộc nhĩ 6g nấu với đường phèn lấy nước uống trước khi đi ngủ để phòng chống cao huyết áp.
Ngoài ra, mỗi ngày ăn thường xuyên từ 10 - 20g mộc nhĩ đen có thể phòng chống hữu hiệu tình trạng táo bón. Điều cần chú ý là, những người bị đi lỏng mạn tính do viêm đại tràng hoặc viêm dạ dày mạn tính thì không nên ăn mộc nhĩ đen.
Nguồn: suckhoedoisong.vn

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

CÂY TRE CỨU NGƯỜI: QUÝ TỪ TRONG RA NGOÀI

Nhà báo Nguyễn Minh Sơn (Báo Sài Gòn tiếp thị) kể tôi nghe, người Pu Péo ở bản Tiến Xuân, huyện Bắc Mê, Hà Giang có món độc đáo chỉ dành đãi khách quý đến thăm. Đó là nước tầm gửi cây tre nướng trên bếp than, anh Sơn nói đây là phương thuốc bí truyền của họ, uống vào rất tốt cho sức khỏe.

Chùm gửi cây tre là phương thuốc bí truyền của người Pu Péo ở Hà Giang. Khách quý đến bản Tiến Xuân,
huyện Bắc Mê (Hà Giang) sẽ được mời uống nước chùm gửi cây tre nướng trên bếp than - Ảnh: Nguyễn Minh Sơn

Ông Ưng Viên bảo đây chính là “Quảng lịch ký sinh”, một kỳ thảo trong thiên nhiên. Tầm gửi trên cây dâu tằm, gọi là “Tang ký sinh”, cũng quý, nhưng đứng thứ nhì. Tầm gửi bám ở đoạn từ 2/3 cây tre trở lên là tốt nhất, bám ở dưới không tốt bằng. “Quảng lịch ký sinh” có tác dụng “điều khí thanh phế, thiện trị hàn tà, đả độc dũ phong”, rất tốt cho phổi, chống được tà khí làm lạnh phổi và giải độc. Nó còn có tác dụng bình quân năng lượng trong cơ thể, tốt cho thận và mạch máu. Chính vì vậy nó còn là vị thuốc ngừa và trị được chứng thượng mã phong. “Quảng lịch ký sinh” có thể sắc hoặc nướng lấy nước uống, làm gỏi ăn thì rất ngon; uống hoặc ăn nó sẽ không bị thượng mã phong, tức là về mặt đề phòng chứng thượng mã phong, dùng “Quảng lịch ký sinh” là hữu hiệu.

Nhưng trị thượng mã phong thì rất khó, vì nó là chứng đứt mạch máu não gây tử vong cấp, nguy hiểm hơn nhiều so với các chứng đột quỵ hoặc đứt mạch máu não thông thường. Để trị bệnh này, phải kết hợp “Quảng lịch ký sinh” với “Trúc thượng ngự”. Hai thứ kết hợp sắc lấy nước trị bệnh.

“Trúc thượng ngự” là đọt của cây tre (khác với “trúc tâm” là đọt của lá tre). Đó là đoạn 1/3 của cây tre tính từ trên xuống. Ngày xưa các bà vợ có ông chồng ham mê tửu dục thường lấy vỏ “trúc thượng ngự” vót thành kim giắt lên tóc, phòng khi chồng uống rượu quá nhiều, thận bị lạnh, nhưng không kìm được chăn gối, dễ đứt mạch máu gây thượng mã phong. Khi ấy, lấy trâm châm liền vào huyệt nhân trung, vào xương cùng (xương cụt) và huyệt đồng tử liêu nằm ở hốc mắt (để không cho đồng tử nở ra). Sau đó lấy nước thuốc nói ở trên nhỏ vào mũi và miệng, xác suất cứu được mạng khoảng 70%.

Hai thứ này còn chữa được bệnh “thương phòng” (còn gọi là “phòng thử”). Đàn ông khi ra mưa ra gió bị nhiễm cảm, những lúc ấy hệ đề kháng của cơ thể tăng lên để dồn sức chống đỡ. Do hệ đề kháng tăng lên nên tạo cảm giác ham muốn tình dục. Trường hợp đó mà chăn gối thì 70% đàn ông sẽ ngộ chứng thương phòng. Khác với thượng mã phong gây tử vong cấp, thương phòng gây tử vong chậm với triệu chứng: người bắt đầu yếu đi chỉ sau 2-3 tiếng chăn gối, tiếng nói yếu, môi xanh, kế tiếp mặt xanh như tàu lá, xuất hiện “tán đại nguyên dương” (nguyên khí của cơ thể đồng loạt phát tán) làm khắp người lạnh buốt, nhưng mồ hôi thì ra dầm dề kể cả trong mùa đông. Sớm thì 2 ngày, chậm thì 11 ngày sẽ tử vong. Bệnh này dùng “Quảng lịch ký sinh”, “trúc thượng ngự” phối hợp với một số vị thuốc khác chữa rất hữu hiệu.

Dường như những gì “bám” vào cây tre đều quý, trong đó có kiến và mối. “Trúc chương - lang tử” là trứng của một loài kiến và mối sống trong thân cây tre khô. Dùng kết hợp với kiến cao cẳng (loài kiến mang ký sinh tạo trầm hương tự nhiên), bào chế thành thuốc trị các chứng tai biến méo miệng, ăn nuốt nhễu nhão khó khăn, đớ lưỡi không nói rõ tiếng, sặc khi uống nước, hốt khóc hốt cười và thường bí tiểu tiện...

Một loài rắn nhỏ sống trong ruột tre hư, ban đêm thường nhảy lách tách trong bụi tre để kiếm mồi, rắn đó gọi là “Trúc xà” (còn gọi là “Trúc điểu” hoặc “Trúc hoa xà”). “Trúc xà” cực độc nhưng cực quý, dùng để bào chế thuốc trị chứng có nguy cơ gây mù mắt, làm lành vết thương, trị chứng hư phổi, nhiễm trùng thận do sởi, đậu mùa...

Và như mọi người đều biết, tre được người dân Việt Nam từ xưa tới nay dùng làm vật kiến trúc, làm công cụ lao động và dụng cụ trong nhà, ngay cả ở đây tre cũng chứng tỏ tính ưu việt so với nhiều loại vật liệu hiện đại.

Điều kỳ lạ là có thứ vật liệu từ tre làm thuốc cũng được mà làm vật liệu xây dựng cũng được, chẳng hạn như tre ngâm bùn. Tre ngâm bùn lâu ngày gọi là “trúc bồi” (khác với “trúc nịch” là gốc tre già ngâm bùn), có tác dụng “kiện tỳ trường vị” dùng để bào chế thuốc trị chứng ăn khó tiêu, bụng luôn phát ách. Trong xây dựng, nó chính là vật liệu dùng để làm nhà, không bị mối mọt và rất lâu hư hỏng, bền chắc hơn sắt thép. Dùng cọc tre đóng dưới móng nhà nơi có nước phía dưới là sự độc đáo của kỹ thuật xây dựng Việt Nam, vì những cái cọc đó gần như là vĩnh cửu.

Trong các công trình kiến trúc cổ, trong đó có các tháp Chăm, ngày xưa không có vữa liên kết như ngày nay nhưng kết cấu nền móng và tường vô cùng bền chắc, đặc biệt là chống được sét và không bị rêu phong. Bởi tiền nhân đã dùng “Trúc hồ”, còn gọi là “Trúc ngọc cương”, là chất dịch từ cây tre ngâm giã nhuyễn kết hợp với dịch nước ô dước, bồ lời, vôi sữa, mật mía... Thứ vật liệu xây dựng đó khiến các nhà nghiên cứu ngày nay phải kinh ngạc.

Còn rất nhiều, rất nhiều thứ vô giá khác từ cây tre mà trong phạm vi một bài báo chúng tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát và sơ sài. 

Lâu nay chúng ta quá coi thường cây tre trong khi tre là nguồn tài nguyên quý như châu báu. Mấy chục năm qua, các lũy tre, các vườn tre ở miền Trung dần dần mất đi, không mấy ai có ý định khôi phục. Sự đối xử phũ phàng đối với cây tre gần như là một sự phản bội. Nhưng rất may mắn là khác với trầm hương, cây tre chưa đến mức đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Theo ông Ưng Viên, chúng ta hoàn toàn có thể khôi phục và phát triển tre của đất nước, ở cả nông thôn và thành thị.

Ở thành thị, trong phạm vi gia đình, nhà nào có đất nên trồng một bụi tre mỡ, ai không có đất cũng có thể trồng một bụi tre gai trong chậu kiểng. Cần lưu ý, tre mỡ là loại tre to có gai. Còn tre gai, không giống như tên gọi, nó là loại tre thân nhỏ nhưng... không có gai. Ở nơi công cộng, cứ cách 50 hay 100m nên trồng một khóm tre. Nơi nào rộng lớn, nên tạo một quần thể tre cho thành phố.

Ở nông thôn, cần khôi phục lại các lũy tre trong phạm vi làng xã, còn trong vườn của mỗi gia đình cần trồng nhiều bụi tre, kết hợp với chuối, mít, ổi và các loại cây ăn trái khác. Như đã nói, rễ tre không hề làm xấu đất, vấn đề là biết cách trồng xen sao cho tre và các thứ cây khác cây nào cũng có phần đất dinh dưỡng.

Tác giả: Hoàng Hải Vân
Nguồn: ThanhNienOnline

KIÊNG KỴ TRONG ĂN UỐNG KHI DÙNG THUỐC ĐÔNG Y

Khác với các thuốc tân dược, thuốc y học cổ truyền có nguồn gốc từ thiên nhiên phong phú. Mỗi vị thuốc được đặc trưng bởi tính và vị. Mỗi vị thuốc lại có những khuynh hướng tác dụng khác nhau từ đó mà tạo ra công năng chữa bệnh của từng vị thuốc. Những tác động liên quan đến quá trình hấp thu phân bổ thuốc đều ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị của thuốc, nhất là chế độ ăn uống, kiêng khem, cách thức uống thuốc. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến một số điều kiêng kỵ trong ăn uống khi dùng thuốc Đông y.
Trong thời gian dùng thuốc người bệnh cần tránh ăn một số thực phẩm mang tính đối lập với chiều hướng của thuốc.
Không nên ăn hải sản khi uống thuốc thanh nhiệt, giải độc.
Các thuốc thanh nhiệt, giải độc
dùng điều trị các chứng dị ứng, ban chẩn nên tránh ăn các loại hải sản như cua, cá biển, sò, ngao, nhộng, lòng trắng trứng (albumin) đây là những protein lạ, là các dị nguyên làm tăng nguy cơ dị ứng. Đông y khuyên khi dùng thuốc có kinh giới thì không nên ăn thịt gà, nhất là da gà, dễ gây phong ngứa trong khi đó kinh giới là thuốc chữa dị ứng.

Thuốc thanh nhiệt, an thần: không nên dùng các chất mang tính kích thích có vị cay, nóng như: rượu, ớt, hạt tiêu, thịt chó vì nó sẽ làm cho tà nhiệt nặng thêm.

Các thuốc giải cảm: cần kiêng ăn các chất chua, mặn vì thuốc có tính chất phát tán, phát hãn, giải biểu mà vị chua mặn lại có tác dụng thu liễm ngược chiều tác dụng của thuốc.

Thuốc ôn lý trừ hàn, thuốc tân ôn giải biểu cần mang lại sự ấm áp cho cơ thể, không nên ăn các thức ăn tanh lạnh, như cua, ốc, thịt trâu, ba ba, rau sống, rau giền, mùng tơi, vì những thức ăn này làm cho hàn tà khó giải.

Thuốc tiêu đạo để kích thích tiêu hóa,bổ dạ dày, kiện tỳ, tiêu thực đặc biệt là thuốc chữa bệnh cam trẻ em, kiêng ăn các thức có dầu mỡ khó tiêu. Những thức ăn này gây nê trệ, làm cho hấp thu của hệ tràng vị vốn đã kém lại càng khó khăn hơn.

Thuốc có mật ong thì không nên ăn hành, bởi hành làm mất mùi thơm, vị ngọt của thuốc, hạn chế tác dụng nhuận bổ của mật ong chưa kể có những tương tác bất lợi. Hành giã nát trộn với mật ong chỉ được dùng ngoài trị bệnh viêm da có mủ .

Những thuốc thanh phế trừ đàm: khi dùng không nên ăn chuối tiêu dễ gây rối loạn tiêu hóa.

Các thuốc bổ dưỡng: khi uống không nên ăn rau quả có tính lợi tiểu như cải bẹ. Nói chung theo kinh nghiệm cổ truyền người ta kiêng ăn đậu xanh (kể cả giá đỗ) và cải bẹ, hai thứ này được coi là “giã thuốc”. Thực chất do tác dụng lợi niệu của nó mà Đông y cho rằng sẽ làm tăng khả năng thải trừ của thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

Trong thời gian uống thuốc cũng không nên uống sữa và nước chè, (trừ một số bài thuốc cổ phương dùng lục trà làm vị), bởi dịch sắc thuốc bao gồm các chất có thành phần hóa học khác nhau tùy theo thang thuốc hoặc mục đích điều trị thường gặp là các chất glycoside, alcaloide, flavonoid, taninoid, đường, tinh bột, acid hữu cơ, các chất gôm, nhựa, pectin, các tinh dầu, vithamin và một số muối vô cơ khác. Khi dùng chung với sữa hoặc nước chè dễ tạo ra các chất phức hợp với các thành phần trong thuốc gây cản trở cho việc hấp thu, ảnh hưởng tới tác dụng của thuốc.

Trên đây là một số kiêng kỵ cơ bản mà y học cổ truyền đã đúc kết từ thực tiễn, người dùng thuốc cần hết sức lưu ý. Tuy nhiên việc kiêng kỵ chỉ mang tính tương đối, không nên thái quá, người bệnh cần chú ý đảm bảo đủ chất cho cơ thể, đừng quên rằng chế độ dinh dưỡng tốt góp phần quan trọng hồi phục sức khỏe.

Tác giả: DSCKI.Phạm Hinh

ĐI TÌM BẢN CHẤT: BÀI THUỐC “SỨC KHOẺ PHỒN THỰC” MANG TÊN ĐẸP “MINH MẠNG THANG”

I. Sức khoẻ phồn thực:

Sức khoẻ phồn thực là dạng năng lượng kích thích bản năng tìm khoái cảm tình dục, ngành phân tâm học (psychanalyse) gọi là LIBIDO. Tất cả sinh động vật đều có Libido như một nhu cầu cuộc sống, riêng loài người “nhân linh ư vạn vật” (con người ưu việt hơn muôn loài), thì bác sĩ Sigmund Freud (người Áo, sinh năm Bính Thìn 1856 – mất năm Kỹ Mão 1939) đã giải thích “tâm lý tình dục” con người thể hiện qua các hành vi mỗi cá thể trong quá trình sống (interprétais par des influences psychosexuelles bon nombre d’actes humains). Tâm lý tình dục (psychosexuelles) chính là trạng thái tinh thần bị ức chế & dồn nén nơi tiềm thức não bộ (subconscience encéphale) các ước vọng thầm kín (của libido) không được thoả mãn, vì một hoàn cảnh hoặc điều kiện khó khăn nào đó …
Bài thuốc tốt cho sức khỏe

Quá trình sống mỗi người có 4 giai đoạn diễn biến hình thái libido:

* từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi: trung tâm libido ở vùng miệng – lưỡi, vì thế trẻ dưới 2 tuổi có phản xạ tự nhiên là bú – ngậm – mút bất cứ vật dụng gì ở gần …

* từ 2 đến 4 tuổi: trung tâm libido ở vùng hậu môn, do đó chúng ta thấy trẻ mẫu giáo thường có thói quen cử động nhiều “vùng bàn toạ” như ngồi bệt, cưỡi, chổng mông …

* từ 5 đến 12 tuổi: trung tâm libido ở tứ chi, trẻ thích chạy nhảy, cầm, ném… (không chịu ngồi yên, bực dọc khi bị hạn chế tay chân)

* từ 13 đến lớn khôn: trung tâm libido ở bộ phận “sinh thực khí” (nam là dương vật, nữ là âm hộ), tuổi dậy thì (puberté – nubilité) bắt đầu phát triển và định hình rõ nét hơn về “sức khoẻ phồn thực” (tức libido):

- nữ thập tam, nam thập lục !

(nữ 13 tuổi, nam 16 tuổi … là đã có nhu cầu thầm kín libido)

II. Những biến thái của sức khoẻ phồn thực:
Ngoài tiến trình phát triển libido nêu trên mà mỗi người khoẻ mạnh đều trải qua (trạng thái bình thường), các nhà phân tâm học còn đúc kết luôn việc khảo sát các biến thái của libido (métamorphie libidineuse) ở một số người có tâm lý bệnh hoạn (nam cũng như nữ) như sau:

2.1- rối loạn phồn thực dạng khổ dâm (algolagnie passive)
Tức là mỗi khi có nhu cầu giao hợp, thường có ý thích làm cho mình tự đau đớn (làm tổn thương thân thể hoặc dằn vặt tinh thần), thì mới thực sự thoả mãn nhục dục … y học hiện đại gọi là “masochisme”

2.2- rối loạn phồn thực dạng thống dâm (algolagnie active) tức là chỉ đạt đỉnh điểm thoả mãn nhục dục khi làm cho người bạn tình bị đau đớn (tinh thần hoặc thể xác), như: đánh đập, xỉ vả, khoái cảm nhìn đối tác đau khổ … y học hiện đại gọi là “sadisme”

Theo kinh nghiệm lâm sàng YHCT của cụ đông y sỹ Đẩu Sơn (1) (dòng họ Lê Lã – Hưng Yên) truyền cho con cháu v/v điều chỉnhdạng rối loạn phồn thực cho 2 trạng thái tâm lý bất thường bệnh hoạn ở trên:

2.3- áp dụng bài thuốc cổ phương kinh điển (loại bổ dưỡng) “Thiên vương bổ tâm đơn” (gồm 13 dược liệu: sinh địa, nhân sâm, đơn sâm, phục linh, viễn chí, bá tử nhơn, thiên môn, đương qui, cát cánh, toan táo nhân, mạch môn, đăng tâm, ngũ vị tử) cho người bệnh dạng khổ dâm (masochisme) uống hàng ngày.

2.4- áp dụng bài thuốc cổ phương (loại hoà giải) “bát vị tiêu dao tán” (gồm 8 dược liệu: sài hồ, đương qui, bạch thược, bạch truật, phục linh, cam thảo, đơn bì, chi tử) cho người bệnh dạng thống dâm (sadisme) uống hàng ngày.

III. Bài thuốc mang tên đẹp “Minh Mạng thang”:

Mỗi khi học lịch sử, mọi người đều chú ý “thành tích phồn thực” của vua Minh Mạng (sinh năm Tân Hợi 1791, mất năm Tân Sửu 1841): có cả thảy 43 người vợ (gồm các bà Hậu & Phi được ghi danh đầy đủ trong “Thế phả Nguyễn phước tộc”) và 142 người con(gồm 78 hoàng tử & 64 công chúa); điều này mặc nhiên nói lên “sức khoẻ phồn thực” (tức libido) của nhà vua (hưởng dương 50 tuổi) rất là sung mãn hiếm có. Sức khoẻ này do đâu mà có? Theo truyền thuyết dân gian xứ Huế: ngay từ lúc còn là “hoàng tử Đảm” (trước năm 1820), ông đã có thói quen uống rượu thuốc bổ dương, loại đặc biệt do các danh y thời bấy giờ cống hiến … nhờ vậy mà đến khi lên ngôi Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (đặt niên hiệu là Minh Mệnh: 1820 – 1841), ông vẫn dẻo dai & mạnh mẽ về sinh lý. Từ đây, đã xuất hiện trong dân gian nhiều “bài thuốc Huế” có hàm ý đề cao chất lượng tăng hiệu quả “sức khoẻ phồn thực” như:

- bài: nhất dạ lục giao sinh ngũ tử (một đêm 6 lần phồn thực, sinh được 5 con)
- bài: nhất dạ ngũ giao sinh tứ tử (một đêm 5 lần phồn thực, sinh được 4 con)
Riêng trong quan điểm của các thầy thuốc dòng họ Lê Lã – Hưng Yên, cụ Đẩu Sơn lại cho rằng:
- vua Minh Mạng sở dĩ có “sức khoẻ phồn thực” là do các ngự y của Thái y viện triều Nguyễn thời cận kim (từ thế kỷ 19 trở đi) đã hợp chẩn và dâng lên vua bài thuốc bồi dưỡng toàn thể trạng (chứ không phải là bài thuốc bổ dương hay cường dương như nhiều người nghĩ). Bài thuốc này là kết tinh trí tuệ “tổng hợp” nhiều nghiệm phương danh tiếng (trong y thư cổ truyền phương đông Châu Á), mang bản sắc Dịch lý Âm Dương mà dòng họ Lê Lã – Hưng yên mỗi khi làm thuốc đểu phải nhớ:

- bất tri Dịch, bất túc dĩ ngôn Y
(không biết Dịch lý, thì không thể đủ sức nói về nghề thuốc)
Cách lý giải của cụ Đẩu Sơn là hai sơ đồ sau:

3.1- Sơ đồ lý pháp A

3.2- Sơ đồ dược dụng B


Như vậy, bài “Minh Mạng thang” (tên gọi này chỉ dùng mới đây, khi các vua triều Nguyễn không còn nữa …), gồm 20 dược liệuchính, là:

1. Đương qui 2. Bạch thược 3. Thục địa 4. Xuyên khung

5. Nhân sâm 6. Bạch truật 7. Phục linh 8. Cam thảo

9. Quế chi 10. Hoàng kỳ 11. Độc hoạt 12.Tang ký sinh

13. Phòng phong 14. Tế tân 15. Ngưu tất 16.Đỗ trọng

17. Đại táo 18. Tần giao 19. Hổ cốt 20. Lộc giác

Tạm kết
Rõ ràng tập thể thầy thuốc trong Thái Y viện triều Nguyễn luôn nghiêm túc và rất thận trọng:

- chỉ dám sử dụng các bài “cổ phương danh tiếng” được y thư truyền thống ghi nhận, để tránh các rủi ro tai biến cho nhà vua (và cũng là “tự bảo thân” để không bị triều đình kết tội “ám hại, đầu độc” vua, khi có sự cố xẩy ra!) cách dùng: sắc uống hoặc ngâm rượu để uống … mỗi ngày.

- chỉ có bài thuốc “kết tinh trí tuệ” bồi dưỡng toàn thể trạng nêu trên mới có thể tạo ra hiệu ứng phụ có lợi (effet secondaire désirable) cho “sức khoẻ phồn thực” chứ không phải là “thuốc kích dục”(như dạng thần dược của YHHĐ: cialit, viagra …) chỉ định nam giới bị yếu sinh lý tiện dụng (nhưng cũng khó lòng sinh được nhiều con)

- chỉ có thể sinh được nhiều con (trường hợp vua Minh Mạng) khi người đàn ông khoẻ mạnh toàn diện (gồm sức khoẻ thể chất & sức khoẻ tinh thần) như sử gia Trần Trọng Kim đã ghi: “vua Thánh Tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu học và lại hay làm; phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến …”

Như vậy bài thuốc “Minh Mạng thang” (theo lý giải như công thức của cụ Đẩu Sơn 1905 – 1963 ở Saigon) mới có thể thoả đáng đáp ứng hơn cả trước thành tích “43 bà vợ & 142 người con” của vua minh Mạng!
Hè 2012
Lê Hưng VKD

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

ĐÔNG Y TRỊ ĐAU RĂNG

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để. Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nước sắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.
Nghệ vàng
Bài 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 - 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.

Bài 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nước đặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.

Bài 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài, thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 - 5 lần, dùng trong 2 - 3 ngày liền hoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.

Bài 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 - 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 - 10 lần.

Bài 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.

Bài 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.

Bài 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 - 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấm thuốc 3 - 5 lần. 

Bài 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vị lá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụng giảm đau nhanh hơn.

Bác sĩ Thu Vân

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

ĐÔNG Y NGÀY NAY


Khi bạn đã đặt ra cho mình câu hỏi “Bị táo bón nên ăn gì” cũng có nghĩa là bạn đã biết rằng nguyên nhân gây ra táo bón xuất phát từ chính chế độ ăn uống hàng ngày của bạn.

Nói cách khác, táo bón xuất phát từ chính quá trình tiêu hóa thức ăn.

Thật vậy!
Khi thức ăn di chuyển trong đường tiêu hóa, phần lớn thời gian chúng nằm trong đường ruột. Tại đây thức ăn được đường ruột hấp thụ nước và các chất dinh dưỡng để đưa vào cơ thể. Quá trình hấp thụ nước và chất dinh dưỡng xảy ra một cách liên tục. Do đó nước trong thức ăn sẽ bị lấy đi dần cùng với quá trình thức ăn di chuyển. Tốc độ di chuyển càng chậm thì thời gian thức ăn ở trong đường ruột càng kéo dài, chúng càng bị mất nhiều nước hơn, phân tạo thành sẽ càng trở nên khô và cứng hơn. Kết quả là táo bón.

Lượng nước còn lại trong chất thải sau quá trình tiêu hóa còn phụ thuộc vào lượng nước bạn uống. Nếu bạn uống thiếu nước, cơ thể thiếu nước sẽ tạo ra phản ứng hấp thụ nước từ thức ăn nhanh qua đường ruột dẫn tới thức ăn cũng sẽ mất càng nhiều nước hơn, phân tạo thành sẽ khô và cứng hơn.

Mặt khác, lượng nước giữ lại được trong thức ăn còn phụ thuộc vào loại thức ăn mà chúng ta ăn vào. Chất xơ trong thức ăn có khả năng hút nước, chương phồng lên,làm cho chúng giữ được nhiều nước hơn, phân tạo thành sẽ mềm hơn, xốp hơn, dễ dàng đẩy ra ngoài hơn.

Như vậy, tốc độ tiêu hóa thức ăn, lượng nước bạn uống vào và loại thức ăn bạn ăn vào là yếu tố quyết định tới tình tạng táo bón của bạn. Một cách chữa táo bón chỉ hiệu quả khi nó đi vào khắc phục những yếu tố này.

Vì vậy, bạn hãy lựa chọn các loại thức ăn có thể khắc phục được những yếu tố trên để thu được hiệu quả cải thiện táo bón tốt nhất.

Rau xanh và hoa quả đều là nguồn cung cấp dồi dào chất xơ 
Những nhóm thức ăn này bao gồm:
Các thức ăn chứa nhiều chất xơ
Như đã nói ở trên, chất xơ gồm hai loại là chất sơ hòa tan và chất xơ không hòa tan. Cả hai loại này đều có khả năng hấp thụ nước, và chương phồng lên, giúp cho thức ăn giữ được nhiều nước hơn sau khi đi qua hệ thống tiêu hóa, làm cho phân mềm hơn và dễ đưa ra ngoài hơn. Chính tác dụng này mà hầu hết các bác sỹ khuyến cáo bạn ăn nhiều các loại thức ăn giàu chất xơ.

Hầu hết các loại rau xanh và hoa quả đều là nguồn cung cấp dồi dào chất xơ hòa tan và không hòa tan. Vì vậy bạn không cần thiết phải nhớ tên một loại cụ thể nào. Thay vào đó, hãy chọn những loại rau xanh và hoa quả mà bạn thích và ăn với lượng nhiều hơn để cung cấp nhiều chất xơ hơn cho bạn.

Bạn cũng có thể sử dụng thực phẩm bổ sung chất xơ, nó sẽ giúp bạn bổ sung chất xơ một cách dễ dàng. Nhưng nguồn chất xơ tốt nhất cho bạn vẫn là các loại rau xanh và hoa quả.

Các loại thức ăn có khả năng kích thích tiêu hóa
Tốc độ di chuyển chậm của thức ăn là một nguyên nhân rất quan trọng gây ra táo bón. Để có thể cải thiện tình trạng táo bón, nhất thiết bạn phải khắc phục tình trạng này. Một trong những cách để cải thiện tình trạng này là sử dụng một số loại thức ăn có khả năng kích thích tiêu hóa. Những thức ăn này bao gồm:

- Thức ăn có chứa men vi sinh như sữa chua, pho mát, dưa muối…

- Các loại hoa quả giúp kích thích tiêu hóa như: Táo, lê, mận, đào, đu đủ, chuối…

- Các loại thức ăn khác như: tỏi, rau lang, rau má, xúp lơ và các loại rau húng…

Để thực sự thu được hiệu quả trong việc cải thiện sự làm việc của hệ tiêu hóa, ngoài việc chọn lựa loại thức ăn bạn cần phải xem xét cách ăn uống.

Đối với các loại hoa quả, để đạt được hiệu quả cao trong việc kích thích tiêu hóa bạn nên ăn cách xa bữa ăn chính( trước ít nhất 30 phút, hoặc sau ít nhất 2 giờ). Không ăn các loại hoa quả cùng các thức ăn có chứa dầu mỡ và protein

Ngược lại, các loại rau xanh thì nên ăn cùng với bữa ăn chính. Như vậy vừa giúp bổ sung chất xơ vào bữa ăn chính vừa giúp hệ tiêu hóa làm việc tốt hơn.

Bạn không nên uống quá nhiều nước trước và ngay sau bữa ăn. Tuy nhiên uống một lượng nước nhỏ sau khi ăn sẽ giúp rất tốt cho hệ tiêu hóa của bạn.

Các thức ăn giúp bổ sung nước cho cơ thể.
Sự thiếu nước của cơ thể là một trong hai nguyên nhân chủ chốt gây ra tình trạng phân bị khô cứng. Để có thể loại trừ táo bón một cách hoàn toàn, bạn cần phải khắc phục nguyên nhân này.

Cách tốt nhất để khắc phục tình trạng thiếu nước của cơ thể chính là tạo thói quen uống nhiều nước mỗi ngày. Vì vậy lời khuyên đầu tiên tôi dành cho bạn là hãy rèn luyện thói quen uống nhiều nước mỗi ngày.

Ngoài ra bạn có thể bổ sung lượng nước cho cơ thể bằng cách ăn các thức ăn có lượng nước lớn. Có rất nhiều loại thức ăn có thể đáp ứng được yêu cầu đó. Nhưng để thu được hiểu quả cao hơn, những thức ăn bạn chọn nên có thêm tác dụng cải thiện sự làm việc của hệ tiêu hóa hoặc giúp cung cấp thêm chất xơ cho bạn hàng ngày. Những thức ăn này có thể là những loại hoa quả như táo, lê, mận, đu đủ, và các loại sữa chua.

Tóm lại, bạn nên tập trung vào việc ăn các loại rau xanh và hoa quả mà bạn yêu thích để bạn có thể ăn với số lượng nhiều hơn. Hãy ưu tiên các thức ăn có khả năng kích thích tiêu hóa. Ngoài ra bạn có thể lựa chọn những thức ăn chứa nhiều nước nếu việc uống nhiều nước hàng ngày rất khó thực hiện. Nếu việc lựa chọn loại thức ăn quá phức tạp và mệt mỏi, hoặc khi bạn nhận thấy tình trạng táo bón không được cải thiện, một số loại thực phẩm chức năng giúp bổ xung chất xơ, và giúp kích thích tiêu hóa sẽ giúp bạn thu được kết quả tốt hơn và đơn giản hơn.

Lưu ý, việc chọn lựa thức ăn trên đây chỉ là những hướng dẫn chung dành cho đối tượng người lớn và những trẻ em ăn được những thức ăn như người lớn.Với những trẻ em ít tháng tuổi, chưa sẵn sàng để ăn nhiều loại thức ăn khác nhau thì bạn có thể tham khảo thêm ở các bài viết về táo bón ở trẻ em.

DÙNG PHẨM MÀU HÓA HỌC ĐỂ NẤU ĂN

Thực phẩm được nhuộm màu hóa học thường có màu sắc bắt mắt, sặc sỡ nhưng trông kém tự nhiên hơn đồ ăn dùng màu tự nhiên.

Phẩm màu được chia làm hai loại chính:
- Phẩm màu tự nhiên: Là các chất màu được chiết xuất hoặc chế biến từ nguyên liệu hữu cơ (thực vật, động vật) sẵn có trong tự nhiên. Ví dụ, Caroten tự nhiên được chiết xuất từ các loại quả có màu vàng, Curcumin được chiết xuất từ củ nghệ, màu Caramen được chế biến từ đường...
Sự khác biệt của thực phẩm khi dùng màu tự nhiên và phẩm màu 
nhân tạo. Ảnh: Nguyễn Anh Thư

Nhóm phẩm màu nguồn gốc tự nhiên có nhược điểm là độ bền kém, sử dụng với lượng lớn nên giá thành sản phẩm cao...

- Phẩm màu tổng hợp hoá học: Là các phẩm màu được tạo ra bằng phản ứng tổng hợp hoá học. Ví dụ Amaranth (đỏ), Brilliant blue (xanh), Sunset yellow (vàng cam), Tartazine (vàng chanh)...

Các phẩm màu tổng hợp thường đạt độ bền màu cao, với một lượng nhỏ đã cho màu đạt với yêu cầu đặt ra, nhưng có thể gây ngộ độc nếu dùng loại không nguyên chất, không được phép sử dụng trong thực phẩm.

Nhiều người, nhất là cơ sở chế biến thực phẩm chuộng phẩm màu hóa học vì chúng thường đem lại màu sắc đẹp cho món ăn, không bị bay màu trong quá trình chế biến và giúp cho món ăn bắt mắt, hấp dẫn hơn, không dễ bị hỏng.

Phẩm màu hóa học thường rất rẻ, chỉ khoảng 25.000-50.000 đồng/kg với loại không có nhãn mác xuất xứ từ Trung Quốc. Rất dễ mua các loại phẩm màu này, tất cả đều được bày bán tràn lan ở chợ, chúng còn dễ sử dụng và không bao giờ bị hư.

Để phân biệt, người tiêu dùng nên lưu ý thực phẩm được nhuộm màu hóa học thường có màu sắc bắt mắt, sặc sỡ nhưng trông kém tự nhiên hơn đồ ăn dùng màu tự nhiên. Dưới đây là hình ảnh khác biệt giữa món ăn dùng phẩm màu và dùng màu tự nhiên.

Tác hại của màu thực phẩm hóa học
Những thức ăn có chứa phẩm màu trong danh mục được phép sử dụng làm phụ gia thực phẩm của Bộ Y tế, dưới mức giới hạn dư lượng cho phép thì không gây ảnh hưởng cho sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu lạm dụng phẩm màu, hoặc chạy theo lợi nhuận, sử dụng các phẩm màu ngoài danh mục cho phép để chế biến thực phẩm (đặc biệt là các phẩm màu tổng hợp) sẽ rất hại, có thể gây ngộ độc cấp tính, tích luỹ lâu dài có thể dẫn đến ung thư, như tương ớt có phẩm màu đỏ Sudan và hạt dưa nhuộm phẩm màu đỏ Rhodamine B.

Tất cả màu thực phẩm nhân tạo độc hại đã bị Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ cấm từ lâu, nhưng có 5 loại vẫn tồn tại trong chợ Việt Nam là màu thực phẩm: Blue1, 2; Red 3; Green 3; và Yellow 6 - đây đều là những chất có thể gây ra ung thư khi thí nghiệm ở động vật.

Blue 1 và 2 được tìm thấy trong những thức uống giải khát như (trà, sữa, rượu, bia...), kẹo, đồ nướng và thức ăn cho thú cưng có mức nguy hiểm thấp nhưng nó liên quan đến ung thư ở chuột. Red 3 tạo ra màu đỏ anh đào, rượu cocktail, kẹo, đồ nướng, đã được chứng minh gây ra khối u tuyến giáp ở chuột. Green 3 có trong kẹo và thức uống giải khát, dù là ít sử dụng, gây ra ung thư bàng quang. Những cuộc nghiên cứu thấy rằng yellow 6 là chất hay được sử dụng nhất để cho vào thức uống giải khát, xúc xích, gelatin, đồ nướng và kẹo. Yellow 6 có thể gây ra khối u ở thận và tuyến thượng thận.

Hiện màu công nghiệp vẫn được dùng khá phổ biến trong một số thực phẩm cho trẻ em như thạch, nước trái cây, đồ ăn nhanh, kẹo bánh... Một nghiên cứu trước đây của Cục Quản lý tiêu chuẩn thực phẩm Anh còn cho thấy, việc dùng thường xuyên thực phẩm có màu công nghiệp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trí tuệ của trẻ, khiến chỉ số IQ giảm ít nhất 5,5 điểm.

Cách thay thế phẩm màu hóa học
Khi chế biến thức ăn tại gia đình, tốt nhất là nên sử dụng các phẩm màu tự nhiên. Nếu sử dụng phẩm màu tổng hợp thì cần biết rõ đó là phẩm màu gì, có được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm hay không. Không mua và không sử dụng các loại phẩm màu đóng gói lẻ không có nhãn mác, nguồn gốc không rõ ràng để chế biến thực phẩm.

Theo tiến sĩ Phan Thị Sửu, Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật An toàn Thực phẩm, Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Thực phẩm Việt Nam, để phòng ngừa tác hại của thực phẩm có nhuộm phẩm màu, người tiêu dùng cần chú ý nên dùng các chất màu tự nhiên (gấc, cà chua, ớt, cà rốt, dành dành, dâm bụt chua, nghệ, lá dứa thơm…). Các chất màu tự nhiên ngoài tác dụng tạo màu chúng còn có tính chống oxy hóa nên rất tốt cho sức khỏe.

 Theo VnExpress

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

CÁC BÀI THUỐC DÂN GIAN CHỮA MẤT NGỦ

1. Táo chua
Dùng 50g hạt táo chua, giã nhỏ. Đun sôi kỹ với 300ml nước trong 15 phút. Dùng nước này uống hàng ngày trước khi đi ngủ giúp bạn có được giấc ngủ ngon và sâu hơn.
Tinh dầu có trong hạt táo có tác dụng dưỡng não, an thần.
Táo chua
2. Quả nhãn
Lấy 100g cùi nhãn tươi với 200ml nước, nấu thành canh, để nguội. Dùng hàng ngày, trước khi đi ngủ 30phút.

Canh từ cùi nhãn tươi giúp cho việc lưu thông máu lên não trở nên dễ dàng, tránh suy nhược thần kinh, giúp giảm căng thẳng và đau đầu.

3. Hoa bách hợp (hoa loa kèn)
Hấp chín 200gram hoa bách hợp. Cho thêm 1 lòng đỏ trứng gà và 50 gram đường phèn rồi trộn đều.

Sau đó tiếp tục hấp cách thuỷ trong vòng 10 phút. Nên dùng nóng trước khi đi ngủ 1 tiếng.

Hoa bách hợp có tính hàn, giúp ngủ ngon và điều hoà hoạt động của hệ thần kinh. Dùng thường xuyên có thể tránh được các bệnh như: đau đầu, suy nhược thần kinh, giảm trí nhớ…

4. Táo đỏ
Dùng 200 gram táo đỏ tươi và 500ml nước, sắc lấy nước. có thể dùng nước này thay nước uống hàng, giúp bổ thận, mát gan, tinh thần thoải mái.

5. Quế
Lấy 10gram quế khô trộn với 100 gram hạt sen tươi và 300ml nước. Nấu kĩ thành canh. Có thể cho thêm một chút đường phèn.

Quế và hạt sen có tác dụng an thần, ngủ ngon, dưỡng sắc. Người già, phụ nữ ở độ tuổi mãn kinh nên thường xuyên dùng loại canh này.

6. Đậu xanh
Dùng 50gram đậu xanh và 10 gram đường phèn nấu kỹ với 200ml nước. Dùng khi còn nóng. Khi dùng có thể cho thêm chút sữa.
Món canh này thích hợp với mọi người, nhất là những người mất ngủ lâu ngày, hoặc thường xuyên phải làm việc căng thẳng.
Nguồn: Dân trí

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

HÀ THỦ Ô CÓ LỢI CHO VIỆC SINH CON


Làm đen râu tóc
Theo quan niệm của y học cổ truyền, râu tóc có quan hệ mật thiết với tạng thận, thận tàng tinh, tinh sinh huyết. Tóc là phần thừa của huyết cho nên nếu thận hư yếu thì tóc không được nuôi dưỡng đầy đủ sẽ sớm bạc và dễ rụng.
Cây hà thủ ô
Ngược lại nếu thận tinh sung túc thì râu tóc dày khỏe và đen bóng. Hà thủ ô có công dụng bồi bổ can thận, dưỡng huyết tư âm, bởi vậy khả năng làm đen râu tóc của vị thuốc này là điều dễ hiểu.

Có lợi cho việc sinh con
Lý luận của y học cổ truyền cho rằng thận tàng tinh, chủ về việc sinh con đẻ cái. Nếu thận tinh sung túc thì sự sinh trưởng phát dục của cơ thể diễn ra thuận lợi, năng lực tính dục được khôi phục và nâng cao nên rất dễ sinh con. Trong sách Bản thảo cương mục, danh y Lý Thời Trân đã ghi lại chuyện Minh Thế Tông hoàng đế chữa khỏi chứng bất dục bằng phương thuốc Thất bảo mỹ nhiêm đan trứ danh với chủ dược là hà thủ ô.

Kéo dài tuổi thọ

Y học cổ truyền cho rằng, sự già yếu của con người cũng do quá trình suy giảm của thận tinh quyết định, bởi vậy việc sử dụng hà thủ ô lâu dài để bổ ích thận tinh cũng có tác dụng kéo dài tuổi thọ.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại đã chứng minh hà thủ ô có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu, giúp ngăn ngừa tình trạng vữa xơ động mạch, bảo vệ tế bào gan, thúc đẩy quá trình sản sinh hồng cầu, nâng cao khả năng miễn dịch, cải thiện hoạt động của hệ thống tuyến nội tiết, đặc biệt là tuyến thượng thận và giáp trạng. Ngoài ra, hà thủ ô còn có tác dụng kháng khuẩn, nâng cao khả năng chống rét của cơ thể, nhuận tràng và giải độc.

Thời xưa, phương thức dùng hà thủ ô chủ yếu là sắc uống, chế thành viên hoàn, cao thuốc hoặc ngâm rượu. Hiện nay, với công nghệ hiện đại người ta bào chế thành các dạng tiện dùng như bột hà thủ ô, viên nang, trà tan...

Một số món ăn - bài thuốc chứa hà thủ ô

- Hà thủ ô 30g, gà mái 1 con, gia vị vừa đủ. Gà làm thịt, mổ bụng, rửa sạch. Hà thủ ô nghiền thành bột đựng trong túi vải buộc chặt rồi cho vào bụng gà. Tất cả đem hầm bằng nồi đất thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn trong ngày.

- Hà thủ ô 60g, trứng gà 3 quả. Sắc hà thủ ô lấy nước bỏ bã rồi đập trứng vào đun chín là được.

- Hà thủ ô 30g, đại táo 3 quả, gạo tẻ 100g, đường đỏ 50g. Hà thủ ô ngâm nước 2 giờ rồi sắc trong 1 giờ, bỏ bã lấy nước đem nấu với gạo và đại táo thành cháo, chế thêm đường ăn trong ngày; hoặc hà thủ ô 15-20g cho vào nồi đất hầm nhừ rồi cho thêm 50-100g gạo nấu thành cháo, chế thêm mật ong ăn khi đói.

- Hà thủ ô 20g, sơn tra 20g. Hai thứ thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút là dùng được, uống thay trà hằng ngày.

- Hà thủ ô 120g, đương quy 60g, sinh địa 80g, rượu trắng 2.500ml. Các vị thuốc thái vụn gói trong túi vải rồi cho vào vò ngâm với rượu, nút kín để nơi thoáng mát khô ráo, sau 1 tuần có thể dùng được. Uống mỗi ngày 15ml vào buổi sáng.

- Hà thủ ô 200g, kỷ tử 50g, long nhãn 200g, đinh hương 15g, mật ong 50g, rượu trắng 2.000ml. Các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong 36 ngày là dùng được. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20ml.

- Hà thủ ô 30g, ngưu tất 15g, sinh địa 15g, đương quy 15g. Các vị thái vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

- Hà thủ ô 50g, thỏ ty tử 25g, kỷ tử 25g, xích linh 50g, ngưu tất 50g, đương quy 25g, bổ cốt chi 12,5g, bạch linh 50g. Các vị tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 9g với mật ong pha rượu nhạt.

Cần lưu ý, khi dùng hà thủ ô cần kiêng ăn huyết động vật, hành, tỏi và củ cải. Khi bào chế không được dùng các dụng cụ bằng kim loại. Cách thức chế biến hà thủ ô khác nhau cũng cho tác dụng khác nhau.

Nhìn chung, hà thủ ô đã qua chế biến có công dụng bổ thận ích tinh, tư âm dưỡng huyết, còn hà thủ ô sống và tươi có công dụng thông tiện, giải độc.
Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

ỨNG DỤNG MỚI CỦA CỎ NHỌ NỒI TRÊN LÂM SÀNG


Cỏ nhọ nồi chữa gan nhiễm mỡ
Gan nhiễm mỡ là cả một quá trình tích tụ lâu dài, ảnh hưởng đến các tạng phủ của cơ thể, làm chức năng tạng phủ bị tổn thương. Bệnh lâu ngày vào thận, thận tinh dần hao tổn, thuỷ (thận) không nuôi dưỡng được mộc (can), ắt can kém sơ tiết, tỳ kém kiện vận, lipit huyết vận hoá không bình thường, tích ứ ở huyết làm tắc nghẽn can lạc mà thành gan nhiễm mỡ. Mỡ tồn đọng lâu ngày ở can, can uất lâu ngày tất sinh nội nhiệt. Can tàng huyết nên thành nhiệt huyết.
CÂY NHỌ NỒI

Bài thuốc: Cỏ nhọ nồi 30 - 100g, Nữ trinh tử 20g, Trạch tả 15g, Đương quy 15g; Trường hợp gan nhiễm mỡ do nghiện rượu thì thêm: Cát căn 30g, Chỉ củ tử (hạt Khúng khéng) 15g, Bồ công anh 15g; người bị viêm gan virut, nhất là viêm gan B mạn thì thêm: Phong phòng 15g, Bán biên liên 20g, Hổ trượng 15g. Người bị bệnh đái đường, thêm: Huyền sâm 15g, Thương truật 15g; người béo phì dẫn đến gan nhiễm mỡ thì thêm: Đại hoàng 6 – 10g, Hà diệp (lá sen) 15g; người tỳ hư thêm Phục linh 12g, Bạch truật 20g. Mỗi ngày uống một thang.

Cỏ nhọ nồi chữa bạch biến
Bệnh này, một là do phong tà từ ngoài xâm nhập vào da, tấn công lỗ chân lông làm cho huyết khí ứ trệ, tắc mao khiếu, không nuôi dưỡng được da; hai là do bên trong huyết hư sinh phong, lại thêm khí trệ huyết ứ, gốc thì hư mà ngọn thì thực

Bài thuốc: Cỏ nhọ nồi 30g, Sa uyển tử 15g, Sinh hà thủ ô 30g, Bạch chỉ 12g, Đương quy 10g, Xích thược 10g, Đan sâm 15g, Đảng sâm 15g, Bạch truật 10g, Thiền thoái 6g; sắc uống ngày một thang; 15ngày là một liệu trình.

Trong bài thuốc: Cỏ nhọ nồi, Đương quy, Sinh hà thủ ô, Đảng sâm, Bạch truật có tác dụng bổ khí dưỡng huyết, kiện tỳ hoá ứ, tư bổ can thận; Bạch chỉ, Thiền thoái có tác dụng tán phong trừ thấp, sinh cơ da, nhuận sắc da; Đan sâm, Xích thược có tác dụng hoạt huyết thông lạc, khư ứ sinh tân, chủ yếu nhằm cải thiện tuần hoàn huyết dịch.

Cỏ nhọ nồi trị eczema trẻ em
Cỏ nhọ nồi tươi, rửa sạch, giã lấy nước, cho vào nồi hấp 15 - 20 phút (tiệt trùng), để nguội, bôi chỗ đau, ngày vài ba lần, hoặc 50g Cỏ nhọ nồi khô (nếu không có tươi) sắc lấy nước rồi cô đặc, bôi chỗ đau; thường 2 - 3 ngày sau là dịch rỉ giảm rõ ràng, đóng vẩy, đỡ ngứa, khoảng một tuần là khỏi.

Theo Y học cổ truyền, eczema trẻ em thuộc phạm trù thai liễm sang, chủ yếu do thấp nhiệt nội uẩn, phát ra ngoài da, chữa bằng Cỏ nhọ nồi da không bị kích ứng.
Tác giả: GS. Phạm Đình Sửu
Nguồn: Theo Trung y tạp chí

RƯỢU THUỐC CHO BỆNH VIÊM KHỚP


Bài 1: Đỗ trọng 60g, sà sàng tử 60g, đương quy 60g, xuyên khung 60g, can khương 60g, tần giao 60g, phụ tử chế 60g, thạch hộc 60g, nhục quế 20g, tế tân 20g, phòng phong 60g, độc hoạt 60g. Các vị tán vụn, ngâm với 2.000ml rượu trắng, sau 7 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15-20ml. Loại rượu này rất tốt cho những trường hợp viêm khớp, đau lưng do lạnh.
Rượu thuốc
Bài 2: Ngưu tất 60g, tần giao 60g, xuyên khung 60g, bạch linh 60g, phòng phong 60g, nhục quế 20g, độc hoạt 60g, đan sâm 60g, ngũ gia bì 250g, ý dĩ 30g, ma nhân 15g, mạch môn 45g, thạch hộc 45g, đỗ trọng 45g, phụ tử chế 45g, địa cốt bì 45g, can khương 45g. Các vị tán vụn, ngâm với 1.000ml rượu trắng, sau 7 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 15-20ml.

Bài 3: Hải đồng bì 30g, ý dĩ nhân 30g, sinh địa 150g, ngưu tất 15g, xuyên khung 15g, khương hoạt 15g, địa cốt bì 15g, ngũ gia bì 15g, cam thảo 4,5g. Các vị tán vụn, ngâm trong 1.000ml rượu trắng, sau 7 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 15-20ml.

Bài 4: Phòng kỷ 12g, vân linh 12g, đỗ trọng 12g, tỳ giải 12g, tần giao 12g, cẩu tích 12g, ngũ gia bì 12g, tục đoạn 12g, dây đau xương 12g, độc hoạt 6g, khương hoạt 6g, mộc qua 12g, kỷ tử 12g, thương nhĩ tử 12g, tang chi 15g, phòng phong 25g, mộc qua 150g, xương hổ 12g. Các vị tán vụn, ngâm với 2.00ml rượu trắng, sau 7-10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 10-15ml.

Bài 5: đương quy 50g, xuyên khung 50g, tục đoạn 50g, ngũ gia bì 50g, ngưu tất 50g, thiên ma 50g, hồng hoa 50g, tang chi 200g, tần giao 25g, phòng phong 25g, mộc qua 150g, xương hổ 50g. Các vị tán vụn, ngâm với 2.000ml rượu trắng, sau 7-10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-15ml.

Bài 6: Mộc qua 120g, ngưu tất 60g, tang ký sinh 60g. Các vị tán vụn ngâm với 500ml rượu trắng, sau chừng 7-10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-15ml.

Bài 7: Khương hoạt 6g, quế chi 6g, tần giao 6g, phòng phong 6g, phụ tử chế 6g, đương quy 10g, cẩu tích 10g, xương hổ 10g, đỗ trọng 12g, xuyên khung 20g, tang chi 20g, sinh khương 6g, đại táo 4 quả. Các vị tán vụn, ngâm trong 1.000ml rượu trắng, sau 10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10ml.

Bài 8: Tần giao 12g, đương quy 12g, phòng phong 12g, xích thược 12g, tang ký sinh 12g, bạch linh 12g, hải đồng bì 12g, quế chi 12g, cam thảo 8g, sa sâm 12g, độc hoạt 12g, xuyên khung 12g. Các vị tán vụn, ngâm trong 1.500ml rượu trắng, sau 10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20ml.

Tác giả: ThS. Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: Sức khỏe và Đời sống