Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

THUỐC QUÝ TỪ NHỮNG NGUYÊN LIỆU NHÀ BẾP

- Hẹ (cửu thái): Vị cay, hơi chua, mùi đắng, tính ấm. Củ hẹ và lá hẹ thường dùng chữa ho, lỵ, giun kim, đau họng, hen suyễn.

THUỐC QUÝ TỪ NHỮNG NGUYÊN LIỆU NHÀ BẾP
Lá hẹ
Cách dùng: Hấp đường phèn với lá, củ hẹ giã nát, lấy nước, ngậm nuốt từ từ để chữa ho hen. Giã vắt nước cốt hẹ thụt hậu môn để trị giun kim khi giun xuống hậu môn.

- Bạc hà: Vị cay, thơm, tính mát, giúp phát tán phong nhiệt, hạ sốt; thường dùng chữa cảm, nhức đầu, dị ứng nổi mề đay, viêm họng có sốt, đàm vướng cổ, đau họng khản tiếng, say nắng, thúc sởi mau mọc.

- Hành: Vị cay, tính ấm, có tác dụng trừ phong, giải hàn tà, lợi khí, tiêu sưng; thường dùng chữa cảm cúm (nấu cháo hành, tía tô, tiêu, gừng ăn nóng để giải cảm cúm). Trị đau bụng do lạnh, đau răng, mụn nhọt, lợi tiểu, an thai.

- Diếp cá: Vị cay, chua, mùi hơi tanh, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, giải độc, tiêu ung thũng, lợi tiểu, điều kinh. Thường dùng chữa các loại viêm sưng, mụn nhọt, đau mắt đỏ, lòi dom, sốt xuất huyết, trĩ ra máu, kinh nguyệt không đều.

- Húng chanh: Vị cay, thơm, tính ấm, có tác dụng phát tán phong hàn, tiêu đàm, diệt khuẩn, tiêu độc trừ phong. Thường dùng làm thuốc chữa ho, cảm cúm, chữa kiến độc, bọ cạp và rết đốt (giã nát húng chanh đắp lên vết đốt, sẽ giảm đau nhức).

- Kinh giới: Vị cay, tính ấm, phát tán phong hàn, thông huyết mạch, thường dùng chữa cảm hàn, giải độc, cảm nhiễm gây đau nhức. Khi sao đen kinh giới thì nó có tác dụng cầm máu. Thường dùng để chữa đái ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam.

- Ngò (rau mùi): Vị cay thơm, tính ấm, kích thích tiêu hóa, chống tà khí, thông khí uất ở đường tiêu hóa. Thường dùng trị cảm lạnh, thúc ban sởi mau mọc. Hạt ngò dùng làm thuốc chữa tắc sữa, mặt bị nám, ban, sởi, lòi dom. Người bị hôi nách, hôi miệng, sưng chân không ăn ngò. Khi uống thuốc có các vị bạch truật, mẫu đơn bì thì kiêng ăn ngò.

- Rau ngổ: Vị cay thơm, mát, có tác dụng tiêu thực, cầm máu. Thường dùng để kích thích tiêu hóa, chữa băng huyết, thổ huyết, mụn nhọt viêm sưng.

- Mùi tàu: Vị cay thơm, tính ấm, có tác dụng thông khí, trừ hàn, tiêu thực. Thường dùng để chữa cảm mạo, ăn uống khó tiêu.

- Rau răm: Vị cay tính ấm, tiêu thực, kích thích tiêu hóa. Thường dùng khi ăn trứng vịt lộn, thịt bò, thịt gà, cháo trai, hến để giúp ngon miệng và làm ấm tỳ vị.

- Tía tô: Vị cay, tính ấm, phát tán phong hàn, giải độc, tiêu tích, hạ khí. Thường dùng để chữa cảm cúm, nhức đầu, ho, sốt, buồn nôn, ngộ độc cua cá; an thai, trừ đàm nhớt ở cổ họng. Tía tô còn được dân gian dùng chữa mụn cóc rất hiệu nghiệm: Lá tía tô rửa sạch, để khô đặt lên mụn, chà xát nhiều lần đến khi lá nát, hết nước thì bỏ đi và cũng không cần để ý đến mụn nữa. Vài ngày sau nhìn lại thì mụn bay hết lúc nào không biết.
Tác giả: Lương y Minh Chánh
Nguồn: Sức Khoẻ & Đời Sống

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

THẬN CŨNG HẾT SỨC QUAN TRỌNG

Khi thận có vấn đề, chạy thận nhân tạo sẽ là nỗi ám ảnh đáng sợ đối với bất cứ ai. Đó là lý do khiến chúng ta không thể không quan tâm đến thận. 

THẬN CŨNG HẾT SỨC QUAN TRỌNG
Uống đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày để giúp thận hoạt 




động tốt


Một chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đối với thận. Sau đây là một số gợi ý để bạn quan tâm quả thận của mình nhiều hơn.

Uống 8 ly nước mỗi ngày. Nước là nguồn duy nhất giúp thanh lọc cơ thể. Vì vậy hãy uống đủ nước để thận được khỏe mạnh và hoạt động trơn tru.

Không nín tiểu. Nín tiểu trong khi bàng quang căng đầy sẽ tạo nhiều áp lực cho thận. Vì thế, bạn cần đi “giải quyết” ngay khi có cảm giác muốn tiểu.

Đậu đen. Được xem là loại thực phẩm tốt cho thận vì chúng chứa ít phosphorous - chất vốn không tốt cho thận.

Lòng trắng trứng. Cũng giống như đậu đen, lòng trắng trứng chứa ít phosphorous, rất phù hợp với người có vấn đề về thận.

Hạt mè. Giúp tái tạo năng lượng cần để thận hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả hơn.

Mù tạt. Lá mù tạt chứa nhiều vitamin K, có thể hỗ trợ việc cung cấp máu đến thận.

Quả mọng sẫm màu. Những loại quả có màu tối có tác dụng tốt đối với thận. Những loại quả mọng như việt quất, nam việt quất và mâm xôi chứa nhiều chất chống ô xy hóa, có thể giúp khắc phục những tổn thương do ô xy hóa gây ra cho thận.

Rau mùi. Lá rau mùi có tác dụng làm sạch các bộ lọc của thận, nên chúng cần xuất hiện trong thực đơn của những người ý thức về sức khỏe thận.

Tránh thực phẩm nhiều gia vị. Ớt có thể không tốt cho thận của bạn. Thực phẩm quá nhiều gia vị sẽ gây áp lực lên gan và thận. Đó là lý do tại sao cần phải duy trì một mức độ gia vị vừa phải trong thực phẩm.

Nấu ăn bằng dầu ô liu. Dầu ô liu là một trong những chất béo lành mạnh nhất đối với thận. Các a xít béo omega 3 hiện diện trong dầu ô liu tạo thành một hàng rào bảo vệ xung quanh những tế bào thận.
Muối biển. Muối biển tốt cho thận do nó chứa nhiều khoáng chất. Chúng có hàm lượng sodium chloride thấp. Vì vậy, nếu bạn bị sỏi thận, tốt nhất nên dùng muối biển.

Bỏ hút thuốc. Chất cadmium hiện diện trong thuốc lá có thể bám lên thành thận, làm suy giảm chức năng thận và gây suy thận. Từ bỏ phì phèo rõ ràng không chỉ tốt cho phổi của bạn mà còn giúp thận hoạt động tốt.

Bớt caffeine. Caffeine không phải là chất thân thiện với thận. Uống quá nhiều cà phê có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận.
Các bài tập duỗi tay chân, yoga. Một số bài tập thể dục kéo duỗi tay chân đơn giản có thể giúp tăng cường chức năng thận. Tương tự, những tư thế yoga cũng có thể tạo điều kiện để thận hoạt động hiệu quả hơn.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

THẬT GIẢ KHÓ PHÂN BIỆT


Mật ong
Nhận dạng: đó là một chất lỏng, sánh, màu trắng đục, vàng nhạt hoặc vàng sẫm, thơm đặc trưng của mùi mật ong, vị ngọt dịu, để lâu thành ngọt đậm, khé cổ, có đường kết tinh ở dưới gọi là châu.

Cách thử để phát hiện thật giả
Nhỏ vài giọt mật ong lên giấy thấm hoặc giấy bản, nếu là mật ong thật sẽ không có vết loang xung quanh giọt mật. Ngược lại, vết loang nhanh và rộng là mật có pha trộn.

Nhỏ một giọt mật ong vào cốc nước trong, nếu giọt mật lắng ngay xuống đáy cốc với hình dạng nguyên vẹn là mật ong thật.

Lấy một phần mật ong hòa đều với phần nước lọc, để yên. Mật ong nguyên chất phải có dung dịch trong suốt. Nếu bị pha trộn, mật sẽ có cặn lắng dưới đáy dung dịch.

Nhỏ vài giọt iod vào mật ong, khuấy đều. Mật nguyên chất không biến màu. Nếu bị trộn nước cháo hoặc nước cơm, mật sẽ có màu xanh lơ; nếu có màu đỏ là mật đã lẫn nước màu.

Xạ hương
Nhận dạng: túc xạ có hình cầu hoặc hình bầu dục, tròn hoặc dẹt, đường kính 3,5-6cm, nặng 30-60g tùy theo tuổi của hươu xạ. Miệng túi hơi phẳng, có nhiều lông mịn, màu trắng hoặc nâu xám, mọc rất sít nhau hoặc áp sát thành hình khoáy, ở giữa có một lỗ nhỏ, đường kính 5mm, khi cạo sạch lông thì phần da ở đó có màu nâu. Mặt ngoài của túi màu nâu đen, không có lông, có tính co giãn. Mặt trong có lớp màng da ở giữa trong suốt, màu tro bạc, lớp màng da ở trong màu đỏ nâu. Trong cùng là chất xạ (xạ hương) ở dạng quánh đặc như sữa, khi khô thành bột hoặc thành hạt lổn nhổn với kích thước không đều, bóng, có mùi thơm hắc rất đặc biệt, để lâu không mất mùi.

Ở dạng bột, chất xạ màu vàng nâu, nâu đỏ hay đỏ tím, chất mềm có dầu. Lấy tay ve tròn, bột tụ lại nhưng không dính vào nhau thành khối. Khi mở tay ra, bột lại tả rời ngay. Ở dạng hạt (tốt hơn), hình tròn hay dẹt, phần lớn có màu đen tím, có vân mờ sáng bóng.
THẬT GIẢ KHÓ PHÂN BIỆT
Xạ hương
Cách thử để phát hiện thật giả
Xạ hương nguyên chất có mùi thơm hắc rất mạnh, bền, pha loãng thì mùi trở nên dịu hơn và rất dễ chịu.

Lấy ít xạ hương cho vào bát nước nóng, thấy tan ngay, không có cặn, dung dịch có màu vàng nhạt, mùi thơm nồng nặc.

Cho xạ hương vào lửa thấy lách tách, lóe sáng, mùi thơm mạnh, sau để lại những nốt dầu trong.

Trộn với camphor, vilerian, tinh dầu tràm, acid hydrocyamic, xạ hương sẽ mất hết mùi đặc trưng của nó.

Mật gấu (hùng đởm)
Nhận dạng: túi mật có hình trứng dẹt, to nhỏ không đều, phần miệng thuôn nhỏ hẹp, phần đáy phình to, thường dài 10-20cm, rộng 5-8cm. Mặt ngoài nhẵn, màu nâu xám hoặc đen xám, có những nếp gấp còn bám lớp màng mỏng mỡ thịt. Khi soi túi ra ánh sáng, thấy phần trên trong suốt, phần giữa và phần đáy có màu sẫm. Nếu cắt mở túi, sẽ thấy nước mật khô gọi là “đởm nhân” ở dạng cục, khối, dạng hạt lổn nhổn hoặc dạng sánh đặc màu sẫm nhạt không đều, óng ánh, mùi thơm dịu.

Chất mật là thứ “đởm nhân” trong, phách, chất xốp giòn, vị đắng, sau ngọt gọi là “kim đởm”, “đồng đởm” hay “thiết đởm”. Thứ màu lục vàng, ít óng ánh, chất kém giòn là “thái hoa đởm”.

Dược liệu tốt là thứ túi to, “đởm nhân” màu vàng kim loại, óng ánh, vị đắng, sau ngọt; “đởm nhân” màu lục vàng, vị đắng, sau không thấy ngọt là loại kém.

Cách thử để phát hiện thật giả
Dùng phương pháp hóa học để phân lập acid ursodesoxycholic (chỉ có trong mật gấu), rồi thử các tính chất đặc trưng của acid này như độ chảy (202o), độ quay cực (+57o07), phản ứng màu (đỏ với dung dịch acid ursodesoxycholic trong nước, đường và acid sulfuric đặc; xanh lục với dung dịch acid ursodesoxycholic trong chloroform, acetic anhydrid và acid sulfuric đặc.

Lấy ít mật gấu nghiền nát, cho vào cốc nước, mật sẽ quay tròn và lắng dần thành những sợi vàng thòng thẳng xuống đáy cốc mà không lan tỏa ra.

Láng qua nước lã cho ướt lên mặt một cái đĩa, rồi lấy một ít mật gấu đặt vào giữa đĩa, nước sẽ tách ra khỏi mật.

Nếm mật gấu lúc đầu thấy đắng, sau ngọt mát và dính lưỡi, ngậm lâu sẽ tan hết, mùi thơm nhẹ và không tanh.

Đem mật gấu đốt lửa, không thấy cháy, chỉ thấy sủi bọt.

Sừng tê giác
Nhận dạng: dược liệu có hình chùy tròn, hoặc hơi có cạnh, đầu múp tẩy hoặc nhọn và hơi xiên, dài 20-25cm, mặt ngoài màu đen, nhạt dần về phía dưới. Đế sừng có răng cưa nhỏ gọi là “mã nha biên” lồi lõm không đều. Quanh mã nha ở phần giữa, có những vân dọc và gai cứng thẳng chưa gọt hết gọi là “cương mao”. Đầu sừng nhỏ, nhẵn bóng, mặt trước có một rãnh dọc, dài 12-16cm, dưới đó có một u lồi gọi là “địa cương” dài khoảng 8cm, cao 4cm. Đế sừng to, hình tròn dài, phía trước hẹp, phía sau rộng hình mai rùa, dài 16-24cm, rộng 12-16cm, màu xám đen hoặc nâu đen, nhạt dần ra phía ngoài thành nâu xám hoặc vàng xám, đáy lõm sâu khoảng 0,4-0,8cm, có nhiều chấm tròn dày đặc gọi là “sa-đê”, chất sừng cứng, rắn và nặng, thớ dọc đều. Không có thớ vặn. Phiến chẻ có màu trắng xám, điểm lấm tấm như hạt vừng hoặc có những đường chỉ nhỏ ngắn.

Loại sừng tốt có màu đen bóng, không nứt, sa-đê tròn to, mùi thơm nhẹ.
Tác giả: DS. CK2. Đỗ Huy Bích
Nguồn: www.suckhoedoisong.vn

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ KHI DÙNG THỰC PHẨM


Những điểm tương đồng trong quan điểm về ăn uống (ẩm thực) của y học hiện đại (YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT):
Có thể nói, về mặt nguyên tắc, quan điểm về ẩm thực của hai nền y học là hoàn toàn thống nhất. Cụ thể:

- Nếu YHHĐ, hay nói đúng hơn là dinh dưỡng học hiện đại (DDHHĐ) khuyên chúng ta nên thực hành một chế độ ăn đủ chất và cân đối thì YHCT hay nói đúng hơn là dinh dưỡng học cổ truyền (DDHCT), cũng khuyên người ta phải “bình hành thiện thực”, nghĩa là: ăn uống phải hữu điều, phải cân bằng. Cân bằng giữa số lượng và chất lượng; giữa ngũ cốc (lương thực), ngũ súc (thịt cá), ngũ thái (các loại rau củ) và ngũ quả (các loại hoa quả); giữa hàn và nhiệt; giữa các ngũ vị: chua, cay, đắng, mặn và ngọt. Ở đây, cũng cần phải nói rõ là, các khái niệm “hàn”, “nhiệt”, “cay”, “ngọt”... thực chất chỉ là những danh từ có ý nghĩa khái quát nhằm để chỉ những nhóm đặc tính chung của đồ ăn thức uống.

NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ KHI DÙNG THỰC PHẨM
Rau kinh giới không nên ăn với cá diếc.
- Nếu DDHHĐ khuyên nên ăn uống hợp lý, tùy theo tuổi, giới và thể chất thì DDHCT cũng khuyên nên ẩm thực theo nguyên tắc chỉnh thể, hay còn gọi là nguyên tắc “nhân nhân, nhân địa, nhân thời chế nghi”. Nghĩa là: ăn uống phải tùy theo đặc điểm sinh lý của từng cá thể (nhân nhân), tùy theo điều kiện địa lý, môi trường sống (nhân địa) và tùy theo mùa, theo thời gian (nhân thời).

- Nếu DDHHĐ khuyên nên ăn theo chế độ bệnh lý thì DDHCT cũng khuyên trong ẩm thực nên “biện chứng thi trị”, “biện bệnh thi trị”, nghĩa là: phải căn cứ vào tính chất bệnh lý và chứng trạng cụ thể mà lựa chọn chế độ ăn cho phù hợp. Ví như, người mắc bệnh “tiêu khát” (đái đường) rất cần xây dựng một chế độ ăn riêng, nhưng để đạt hiệu quả tốt nhất thì lại phải tùy theo từng thể bệnh mà gia giảm đồ ăn thức uống cho hợp lý.

Cơ sở khoa học cho vấn đề kiêng kỵ trong ăn uống:
Cổ nhân cho rằng: “Dân dĩ thực vi tiên”, ăn uống là chuyện hết sức quan trọng, ăn để cung cấp “tinh hậu thiên” cho nhân thể nhằm giúp cho “tinh tiên thiên” (vốn dĩ được bẩm thụ từ tinh cha huyết mẹ) ngày càng phát triển và khỏe mạnh. Nhưng cổ nhân cũng cho rằng: “bệnh tòng khẩu nhập” (bệnh theo đường miệng mà vào), cho nên vấn đề kiêng kỵ trong ăn uống là rất cần thiết nhằm mục đích không ngừng nâng cao sức khỏe và tích cực phòng chống bệnh tật. Cũng bởi vậy mà YHCT đã xếp yếu tố “ẩm thực bất điều” (ăn uống không hợp lý) là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh tật thuộc vào nhóm được gọi là “bất nội ngoại nhân” cùng với hai nhóm khác nhau là “nội nhân” và “ngoại nhân”.

Cũng như Đông y, DDHCT luôn tuân thủ quan điểm chỉnh thể và biện chứng luận trị. Theo đó, cơ thể con người phải luôn luôn giữ thế cân bằng động giữa âm và dương, giữa hàn và nhiệt, giữa bên trong và bên ngoài..., cho nên bất cứ thuốc hoặc đồ ăn thức uống nào khi đưa vào cơ thể cũng phải lựa chọn cẩn thận để không làm mất thế cân bằng sinh tử này. Và nếu như cơ thể không may bị bệnh, nghĩa là sự thiên thịnh hay thiên suy đang hiện diện, thì việc “biện chứng” để “luận trị” bằng thuốc hoặc thức ăn nhằm lập lại thế cân bằng là điều rất cần thiết. Khi đó, chuyện nên ăn thứ này, nên kiêng thứ kia là hoàn toàn dễ hiểu.

Nội dung kiêng kỵ trong ăn uống của YHCT
Thực ra, YHHĐ cũng đề cập tới ăn kiêng, ví dụ: người bị bệnh xơ gan nên kiêng thức ăn có nhiều mỡ, kiêng bia rượu; người bị viêm loét dạ dày kiêng ăn đồ cay chua; người bị tăng huyết áp kiêng ăn nhiều muối... Tuy nhiên, vấn đề ăn kiêng trong YHCT có nội dung phong phú hơn nhiều, thể hiện cụ thể trên các phương diện sau đây:

- Kiêng ăn về số lượng: không nên ăn quá no, quá nhiều và cũng không nên để quá đói.

- Kiêng ăn thiên lệch: không ăn quá nhiều thứ gì đó.

- Kiêng kỵ khi bị bệnh: tùy theo đặc điểm và tính chất của từng loại bệnh và thể bệnh mà tiến hành kiêng kỵ cho hợp lý.

- Kiêng kỵ theo thể chất, tuổi và giới.

- Kiêng kỵ theo mùa và thời tiết.

- Kiêng các thức ăn biến chất, thiếu vệ sinh.

- Kiêng kỵ khi phối hợp thực phẩm và thực phẩm, ví như: cá diếc kỵ gan lợn và kinh giới, thịt gà kỵ mận, thịt dê kỵ dấm và bí đỏ...

- Kiêng kỵ khi phối hợp thuốc và thực phẩm, ví như: khi uống thuốc có thục địa thì kiêng ăn cà rốt, hành và hẹ; khi uống thuốc có cam thảo thì kiêng ăn rau cải; khi uống thuốc có thiên môn thì kiêng ăn cá chép...

Một số điều cần kiêng kỵ trong ăn uống hàng ngày
Kiêng kỵ theo mùa: mùa hạ dương khí vượng thịnh, thời tiết nóng bức nên kiêng các thức ăn có tính nhiệt như thịt chó, thịt dê, ớt, hạt tiêu, gừng, quế, hồi...; mùa đông lạnh lẽo nên kiêng các thức ăn có tính lạnh như cua, ốc, dưa hấu, dưa chuột, trai, hến...

Kiêng kỵ theo thể chất: người có thể chất thiên nhiệt nên kiêng các thức ăn quá cay nóng, người có thể chất thiên hàn nên kiêng ăn các thức ăn quá lạnh. Người đàm trệ nên kiêng đồ ăn thức uống quá béo bổ...

Kiêng kỵ theo tuổi: trẻ em nên kiêng đồ ăn thức uống sống lạnh vì dễ gây thương tổn tỳ vị, người già nên kiêng ăn thức ăn quá béo, quá ngọt hoặc quá mặn...

Kiêng kỵ theo giới: phụ nữ có thai nên kiêng các thức ăn có tính chất quá cay nóng, dễ kích thích hoặc quá sống lạnh, phụ nữ sau khi sinh con nên kiêng các thức ăn có tính lạnh...

Kiêng kỵ theo bệnh: người bị viêm loét dạ dày tá tràng và viêm đại tràng mạn tính thể tỳ vị hư hàn kiêng ăn đồ sống lạnh; người bị liệt dương thể âm hư nên kiêng ăn các thực phẩm có tính cay nóng như thịt chó, thịt dê, gừng, tỏi, rượu trắng..., người hay bị mụn nhọt cũng nên kiêng ăn các loại thức ăn này
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

CHIM CÚT LÀM THUỐC

Thịt chim cút có tác dụng bổ hư ích khí, thanh lợi thấp nhiệt. Dùng cho các chứng lao, suy nhược, tiêu chảy, kiết lỵ, suy dinh dưỡng và phong thấp.
CHIM CÚT LÀM THUỐC
Chim cút tốt cho sức khỏe mà bạn không ngờ

Trứng chim cút: Bổ ngũ tạng, bổ trung ích khí. Dùng cho các trường hợp sau khi bị bệnh lâu ngày làm khí huyết hư nhược, tiêu hoá kém, sản phụ sau đẻ bị suy nhược.

Chú ý: người đang bị cảm sốt, nhiều đàm không nên dùng chim cút.

Do tác dụng bổ dưỡng tăng lực rõ rệt nên ở Trung Quốc, có nơi gọi chim cút là nhân sâm động vật. Chim cút được chế biến các món ăn để chữa bệnh như sau:

Chim cút xào măng: Chim cút 100g (đã được làm sạch, bỏ ruột), măng tre 30g, mộc nhĩ 12g (ngâm mềm, rửa sạch), dưa chuột 12g. Đặt xoong trên bếp nóng, cho dầu, thả thịt chim cút vào rán chín, cho thêm nước hàng, bột đậu, măng, nấm, dưa chuột (đã thái lát), xào chín toàn bộ, cho ít bột ngọt, nếm vừa là được. Dùng cho người khí huyết hư nhược, tiêu hoá kém.

Chim cút hầm đậu đỏ: Chim cút 4 - 5 con (làm sạch bỏ ruột), đậu đỏ (tiểu đậu) 100g, gừng tươi 15g (gọt vỏ đập giập) tất cả hầm nhừ, thêm gia vị. Dùng cho người bị tiêu chảy, kiết lỵ.

Chim cút chiên dầu mè: Chim cút làm sạch (4 - 5 con), tẩm bột trứng gà và lá mơ băm nhỏ, dùng dầu mè để chiên. Dùng cho các trường hợp suy nhược, hư lao thở gấp, mỏi mệt, tiêu chảy, kiết lỵ lâu ngày ăn kém, người cao tuổi suy kiệt.

Chim cút hầm kỷ tử đỗ trọng: Chim cút 3 - 5 con (làm sạch), kỷ tử 30g, đỗ trọng 15g, hầm nhừ, vớt bỏ bã thuốc thêm gia vị. Dùng cho các trường hợp phong thấp, thoái hoá khớp, đau lưng mỏi gối, mệt mỏi, thở gấp.

Chim cút, cật lợn: Chim cút 3 - 5 con, gạo tẻ 150g, đậu đỏ 60g, bầu dục (cật lợn) 200g (thái lát). Tất cả nấu cháo, thêm gia vị. Dùng cho các trường hợp ho lao, mệt mỏi thở gấp, rối loạn tiêu hoá, ăn kém, viêm thận phù nề, đau lưng mỏi gối, suy kiệt và thiểu dưỡng.

Chim cút tiềm đông trùng hạ thảo: Chim cút 3 - 5 con. Mỗi con chim cút đã làm sạch, cho 1 con trùng thảo vào bụng, khâu lại, thêm gia vị hầm nhỏ lửa cho chín nhừ. Dùng cho các trường hợp ho lao, hen suyễn, khái huyết, mệt mỏi thở gấp; đau lưng mỏi gối, mệt mỏi ăn kém.

Trứng chim cút, bạch cập: Bạch cập tán bột mịn (liều lượng thích hợp để sẵn). Trứng chim cút 3 quả (bỏ vỏ), khuấy đều với bột bạch cập, thêm nước sôi, uống vào các buổi sáng, một đợt vài ba tuần. Dùng cho các trường hợp lao phổi khái huyết.

Trứng chim cút hầm sâm qui đại táo: Trứng chim cút 3 quả, đảng sâm 15g, đương qui 12g, đại táo 10 quả. Hầm nhừ. Dùng cho các trường hợp dưỡng bệnh sau thời kỳ nằm viện, sản phụ sau khi sinh con, suy nhược thần kinh.

Cháo trứng cút: Cháo trắng (gạo tẻ hoặc gạo nếp) 1 tô, trứng chim cút 1 - 2 quả. Dùng cho trẻ em suy dinh dưỡng, người thể trạng suy nhược. (nên ăn vào buổi sáng hoặc buổi tối).

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

BÍ QUYẾT CHĂM SÓC THẬN

Khi thận có vấn đề, chạy thận nhân tạo sẽ là nỗi ám ảnh đáng sợ đối với bất cứ ai. Đó là lý do khiến chúng ta không thể không quan tâm đến thận. 

BÍ QUYẾT CHĂM SÓC THẬN
Uống đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày để giúp thận hoạt 




động tốt


Một chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đối với thận. Sau đây là một số gợi ý để bạn quan tâm quả thận của mình nhiều hơn.

Uống 8 ly nước mỗi ngày. Nước là nguồn duy nhất giúp thanh lọc cơ thể. Vì vậy hãy uống đủ nước để thận được khỏe mạnh và hoạt động trơn tru.

Không nín tiểu. Nín tiểu trong khi bàng quang căng đầy sẽ tạo nhiều áp lực cho thận. Vì thế, bạn cần đi “giải quyết” ngay khi có cảm giác muốn tiểu.

Đậu đen. Được xem là loại thực phẩm tốt cho thận vì chúng chứa ít phosphorous - chất vốn không tốt cho thận.

Lòng trắng trứng. Cũng giống như đậu đen, lòng trắng trứng chứa ít phosphorous, rất phù hợp với người có vấn đề về thận.

Hạt mè. Giúp tái tạo năng lượng cần để thận hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả hơn.

Mù tạt. Lá mù tạt chứa nhiều vitamin K, có thể hỗ trợ việc cung cấp máu đến thận.

Quả mọng sẫm màu. Những loại quả có màu tối có tác dụng tốt đối với thận. Những loại quả mọng như việt quất, nam việt quất và mâm xôi chứa nhiều chất chống ô xy hóa, có thể giúp khắc phục những tổn thương do ô xy hóa gây ra cho thận.

Rau mùi. Lá rau mùi có tác dụng làm sạch các bộ lọc của thận, nên chúng cần xuất hiện trong thực đơn của những người ý thức về sức khỏe thận.

Tránh thực phẩm nhiều gia vị. Ớt có thể không tốt cho thận của bạn. Thực phẩm quá nhiều gia vị sẽ gây áp lực lên gan và thận. Đó là lý do tại sao cần phải duy trì một mức độ gia vị vừa phải trong thực phẩm.

Nấu ăn bằng dầu ô liu. Dầu ô liu là một trong những chất béo lành mạnh nhất đối với thận. Các a xít béo omega 3 hiện diện trong dầu ô liu tạo thành một hàng rào bảo vệ xung quanh những tế bào thận.
Muối biển. Muối biển tốt cho thận do nó chứa nhiều khoáng chất. Chúng có hàm lượng sodium chloride thấp. Vì vậy, nếu bạn bị sỏi thận, tốt nhất nên dùng muối biển.

Bỏ hút thuốc. Chất cadmium hiện diện trong thuốc lá có thể bám lên thành thận, làm suy giảm chức năng thận và gây suy thận. Từ bỏ phì phèo rõ ràng không chỉ tốt cho phổi của bạn mà còn giúp thận hoạt động tốt.

Bớt caffeine. Caffeine không phải là chất thân thiện với thận. Uống quá nhiều cà phê có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận.
Các bài tập duỗi tay chân, yoga. Một số bài tập thể dục kéo duỗi tay chân đơn giản có thể giúp tăng cường chức năng thận. Tương tự, những tư thế yoga cũng có thể tạo điều kiện để thận hoạt động hiệu quả hơn.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

PHÒNG NGỪA NGỘ ĐỘC NẤM

Nhưng không hẳn nấm nào cũng ăn được. Nếu không biết cách nhận diện, quen với mỗi loại nấm lành và nấm độc, người ăn nấm chỉ sau nửa giờ sẽ bị ngộ độc, nôn mửa dẫn đến tử vong do không kịp cấp cứu.
PHÒNG NGỪA NGỘ ĐỘC NẤM
Cây nấm
Để phòng ngừa ngộ độc nấm, chúng ta cần phân biệt như sau:

- Nấm làm thuốc chữa bệnh gồm: nấm phục linh, linh chi và nấm lim.

- Người tạng yếu, dạ dày bị viêm loét, dị ứng nấm tuyệt đối không nên ăn nấm dù loại lành hay làm thuốc.

- Không nên hái nấm non, mới nhú chồi (kể cả nấm rơm, nấm hương) để ăn, vì nấm non dễ bị chất phalin rất độc chưa bị hủy, thường hay gặp ở chồi vừa nhú khỏi mặt đất.

- Phụ nữ có thai không nên ăn nấm vì khó biết nấm độc hay lành. Khi phụ nữ có thai dù cứu được mẹ, thai nhi cũng bị ảnh hưởng, có thể bị độc tố gây dị tật hay tử vong.

- Nếu có người thân ngộ độc nấm, làm ngay động tác móc họng cho nôn.

Người cùng ăn chưa có biểu hiện ngộ độc cũng phải lập tức gây nôn.

- Cách cấp cứu sơ bộ là sau khi gây nôn, cần cho nạn nhân uống nước râu bắp và thêm một muỗng canh muối (nếu không có râu bắp thì pha đậu xanh với đường, nước mía cũng giải độc), sau đó đưa đi bệnh viện.

- Triệu chứng ngộ độc thấy rõ nhất là: hạ huyết áp, mạch chậm, khó thở hoặc thở nhanh. Tứ chi co giật, miệng méo, mắt đỏ hoặc vàng nghệ do bị tổn thương gan, máu não thiếu. Sốt nhẹ, chảy nước mắt, mũi, nước dãi trào ra miệng.

Dưới đây là các loại nấm độc cần nên biết để tránh:

- Ammanita pantheria (nấm màu nâu lốm đốm trắng, đỏ như da báo) chứa độc tố cholin.

- Ammanita philloides (mũ màu xanh thẫm lốm đốm chấm đen) thường mọc ven ở ruộng, rừng ẩm thấp, nơi có phân chó, mèo và thân cây mục.

Độc tố phalin cực mạnh, chỉ ăn 5g sau 30 phút, da tươm máu, mê sảng, người co giật, tiêu ra phân thối lẫn máu khi chưa kịp cấp cứu.

Khi mua nên tránh loại nấm không rõ nguồn gốc.
Tác giả: Đông y sĩ Kiều Bá Long

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

PHƯƠNG THUỐC TỪ ĐU ĐỦ


Cậu ấm được cả phủ quý như một viên ngọc sáng. Nhưng không ngờ cậu ấm này tuy được chăm chút rất chu đáo và cẩn trọng mà vẫn gầy còm trông như que củi và cứ quặt quẹo ốm yếu luôn. Do vậy đến tuổi 13 – 14 mà đi vẫn chưa vững, hay buồn nôn, kém ăn, uống rất nhiều thuốc mà sức khỏe vẫn không khá lên được. Sự thế biến chuyển, vào mùa xuân năm ấy đã xảy ra chiến tranh, viên quan đã không chống lại nổi thiên binh vạn mã của quân giặc và đã chết nơi chiến trận.

Lúc này cậu ấm Đức Lâm phải theo mẹ đi lánh nạn lang bạt dưới vùng Lĩnh Nam khiến cho người mệt, bụng đói làm cho bệnh tình càng thêm nặng. Đêm đến mẹ con đều mệt nhoài tựa vào nhau ngủ thiếp đi. Về khuya, trăng lên cao, một cơn gió lạnh làm cho phu nhân tỉnh giấc. Bỗng bà thấy trên sườn đồi trước mặt có ánh vàng lấp lánh. Một ông tiên râu tóc bạc phơ cầm gậy, lúc chỉ sang phía Đông, lúc lại chỉ sang phía Tây. Mấy chục con hạc tiên tỏa ánh bạc long lanh bay lượn trên không trung và biến hóa đội hình theo sự điều khiển cây gậy của ông tiên và chừng nửa giờ sau tự biến mất.

Phu nhân lấy làm lạ và bà suy nghĩ phải chăng thần tiên đang thương tình mách bảo mẹ con bà? Sáng sớm hôm sau phu nhân cố sức cõng con trai về phía quả đồi. Lên đến sườn đồi bà sững sờ không đỗi ngạc nhiên vì trong thung lũng có tới mấy chục cây lạ chi chít những quả to bằng quả bầu màu vàng óng. Bên cạnh là một dòng suối trong chảy từ trên cao xuống, xung quanh cỏ hoa tươi tốt um tùm, tỏa ra mùi hương thơm mát chẳng khác nào nơi bồng lại tiên cảnh. Giữa lúc đang đói mệt, bà đặt Đức Lâm xuống rồi lại hái một quả chín vàng và ăn. Thấy quả hương vị thơm ngon và lần đầu tiên trong đời được ăn làm cho phu nhân thấy trong người tỉnh táo hẳn lên. Bà bèn đưa một miếng vào miệng con và cứ thế hai mẹ con ăn no nê. Ngày hôm sau bà dựng lều tại đó và hết ăn quả tươi, lại nấu chín quả ấy để hai mẹ con cùng ăn. Bỗng điều kỳ lạ, sau 10 ngày bà thấy bệnh của Đức Lâm lui giảm, cậu con khỏe hẳn. Cây ấy sau được đặt tên là đu đủ. Sau vài ngày nữa ăn đu đủ thì thấy Đức Lâm đã tự leo được lên núi đốn củi giúp mẹ làm lụng mọi việc. Cơ thể cậu rắn chắc khỏe mạnh cao lớn hẳn lên.

Sự thật chắc hẳn không hoàn toàn như vậy, nhưng dù sao câu chuyện cũng muốn nói với chúng ta rằng quả đu đủ là loại quả có tác dụng bổ dưỡng và chữa trị được nhiều bệnh.

Chính thế mà trong Trung dược đại từ điển của Trung Quốc có ghi rằng: đu đủ có chứa một loại kiềm có tác dụng phòng chống ung thư, sát khuẩn. Trong đu đủ có men protein giúp cho tiêu hóa đạm, chữa rối loạn tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính, chữa mỏi chân gối... Còn nhựa quả đu đủ xanh có thể làm tan các tổ chức mô bị hoại thư. Lá đu đủ giã nát đắp chữa mụn nhọt hay vết thương viêm loét. Đu đủ có chất men papain có lợi cho tiêu hóa, có tác dụng phá vỡ amin làm mềm xương thịt khi hầm cùng đu đủ. Các nhà khoa học Mỹ còn cho rằng đu đủ có khả năng ngăn ngừa ung thư phổi, cả ung thư dạ dày hay tuyến tiền liệt nhờ sự phong phú chất lycopen có trong quả đu đủ. Ngoài ra enzym papain còn có khả năng thúc đẩy quá trình làm lành vết thương nhất là vết thương do bỏng. Đu đủ lại cho năng lượng thấp nên trở thành thực phẩm lý tưởng cho những người béo phì...

Để tham khảo và áp dụng, sau đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ đu đủ.

Chữa chứng viêm dạ dày: đu đủ 30g, táo tây 30g, mía 30g. Tất cả sắc lấy nước uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.

Chữa tỳ vị hư nhược: đu đủ 30g, củ mài 15g, sơn tra 6g, gạo nếp 100g. Tất cả nấu nhừ thành cháo ăn hai lần trong ngày vào buổi sáng và chiều. Cần ăn 10 ngày liền.

Chữa đau lưng mỏi gối: đu đủ 30g, ngưu tất 15g, hoàng kỳ 10g, đỗ tương 15g, câu kỷ tử 10g, cam thảo 3g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần. Cần uống 10 ngày liền.

Chữa ho do phế hư: đu đủ 100g, đường phèn 20 – 30g, hầm nhừ ăn ngày một lần. Cần ăn 5 – 7 ngày liền.

Chữa mụn nhọt: lấy lá đu đủ giã nát đắp rịt vào nơi mụn nhọt ngày một lần.

Đu đủ hầm đường phèn: đây là món ăn mà người Quảng Đông, Trung Quốc rất thích. Món ăn này nếu ăn thường xuyên vào mùa xuân hè có tác dụng thanh tâm nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Nếu ăn vào mùa thu đông lại có tác dụng nhuận táo, ấm dạ dày, bổ tỳ vị, dưỡng gan, giảm ho, nhuận phổi, tan đờm. Là một món ăn có hương vị thơm ngon đặc trưng có thể sử dụng cho mọi lứa tuổi như già, trẻ, người lớn ăn quanh năm đều được. Cách chế biến rất dễ: lấy một quả đu đủ chín vàng, gọt vỏ, thái miếng cho vào bát to, tra đường phèn vào vừa đủ, sau đặt bát vào nồi hầm cách thủy sau 1 giờ lấy ra ăn cả nước lẫn cái, ngày ăn 1 lần, có thể ăn 2 lần trong một ngày.

Nguồn: Danong.com

DƯỢC THẢO ĐIỀU TRỊ HO GÀ


Bệnh ho gà thường gặp ở trẻ em. Lúc đầu trẻ hơi sốt, hơi đỏ mắt, ho khan, ho dai dẳng, sau ho từng cơn dài, rũ rượi, thở rít vào như gà gáy, ho ra dãi trong hơi dính, hoặc có khi nôn ra sữa và thức ăn.

Một số dược thảo trong thành phần các bài thuốc trị ho gà

Bách bộ: Có tác dụng trị ho, ức chế trung tâm hô hấp, ức chế phản xạ ho. Ngày dùng 4-12g, dạng thuốc sắc, cao, viên hoặc bột.

Bán hạ nam (củ chóc) chế: Có tác dụng chống ho, chống co thắt cơ trơn, giản đau. Dùng trị ho, hen suyễn. Ngày dùng 3-10g, sắc nước uống.

Vỏ rễ dâu: Được dùng chữa ho có đờm, hen, ho ra máu, trẻ em ho gà. Ngày dùng 4-12g, sắc nước uống.

Gừng: Có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chống co thắt cơ trơn, giảm đau, giảm ho, hạ sốt, kháng histamin. Được dùng chữa ho, viêm phế quản. Ngày dùng 4-12g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Hẹ: Có tác dụng kháng khuẩn, lá và thân hành hẹ được dùng chữa ho trẻ em, hen suyễn, họng sưng đau. Ngày dùng 12-25g lá và thân hành tươi, giã nát, vắt lấy nước uống.

Hoàng cầm: Có tác dụng kháng khuẩn, kháng histamin, giảm đau. Được dùng làm thuốc chữa ho, hạ sốt, ngày uống 6-15g dạng thuốc sắc hoặc bột.

Ma hoàng: Chứa hoạt chất ephedrin có tác dụng gây giãn cơ phế quản mạnh. Trong y học cổ truyền, ma hoàng được dùng trị ho trong ho gà, hen phế quản.

Ngũ vị tử: Được dùng trị ho tức ngực, suyễn, viêm phế quản, hen phế quản. Ngày uống 5-15g quả và hạt dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm và bột.

Cỏ nhọ nồi: Có tác dụng kháng khuẩn, kháng histamin, chống viêm, cầm máu. Được dùng điều trị ho, ho ra máu, hen, viêm họng. Ngày dùng 20g cây khô, dạng thuốc sắc, hoặc 30-50g cây tươi, giã vắt lấy nước uống.

Tía tô: Có tác dụng kháng khuẩn, chống co thắt cơ trơn, chống dị ứng. Được dùng chữa ho, hen suyễn; ngày dùng 5-12g lá, sắc nước uống.

Các bài thuốc trị ho gà

Bách bộ.
Giai đoạn đầu: Do cảm nhiễm, phế hàn.

Triệu chứng: Chảy nước mũi, ngạt mũi, ho liên tục, ngày nhẹ, đêm nặng.

Bài 1: Lá chanh, lá táo, cỏ trói gà, trần bì, mỗi vị 4-8g. Sắc nước uống, ngày một thang.

Bài 2: Lá táo, lá chanh, mỗi vị 300g, lá dâu 200g. Tất cả phơi khô, tán thành bột mịn, luyện với mật ong làm thành viên bằng hạt đậu xanh. Ngày uống 40-60 viên chia hai lần.

Bài 3: Lá tía tô 12g, cam thảo dây 10g; lá hẹ, lá xương sông, mỗi vị 8g, vỏ quýt 6g, gừng 2g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 4: Hạnh nhân (nhân hạt mơ) 12g, bách bộ 8g; trần bì 6g; ma hoàng, cam thảo, mỗi vị 4g. Nếu có sốt, thêm: tang bạch bì 12g, hoàng cầm 8g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 5: Bạch thược 8g; ma hoàng, quế chi, cam thảo, bán hạ chế, ngũ vị tử, mỗi vị 4g; can khương, tế tân, mỗi vị 2g. Sắc uống ngày một thang.

Giai đoạn ho cơn: Do đờm nhiệt, phế nhiệt.

Triệu chứng: Sau khi mắc bệnh khoảng một tuần, ho càng ngày càng nặng, ho cơn, sau khi ho có tiếng rít, nôn ra đờm dãi, thức ăn. Nếu ho nhiều có thể ra máu, xuất huyết giác mạc, chảy máu cam, mi mắt nề.

Bài 1: Bách bộ, cỏ mần trầu, rễ chanh, cỏ nhọ nồi, rau má, mỗi vị 250g; lá mơ, cam thảo dây, mỗi vị 150g, trần bì 100g, gừng 50g, đường kính 1.500g. Cho vào 6 lít nước, sắc còn lại 1 lít. Liều dùng: mỗi lần uống 2 thìa cà phê; 6 tháng đến 1 năm tuổi: ngày uống 2-3 lần; trên 1-2 tuổi: ngày 4 lần; trên 2-4 tuổi: ngày 6 lần; trên 4-7 tuổi: ngày 7 lần.

Bài 2: Thạch cao 20g; hạnh nhân (nhân hạt mơ, chần nước sôi, sao vàng), hoàng cầm, mỗi vị 12g, ma hoàng 6g; bách bộ chế, cam thảo, mỗi vị 4g. Nếu xuất huyết, thêm: rễ cỏ tranh 12g, chi tử sao đen 6g. Nếu đờm nhiều, thêm: bán hạ chế, hạt củ cải, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 3: Tang bạch bì, mạch môn, ngưu tất, mỗi vị 10g, xuyên tâm liên 5g. Sắc uống ngày một thang.

Giai đoạn hồi phục:

Triệu chứng: Cơn ho giảm nhẹ dần, số lần ho ít hơn, tiếng rít giảm dần đến hết, cơn ho yếu, thở ngắn, dễ ra mồ hôi, khát nước.

Bài 1: Thiên môn, bách bộ, mỗi vị 16g; vỏ rễ dâu, sa sâm, mạch môn, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Thiên hoa phấn (rễ qua lâu) 16g; sa sâm, mạch môn, mỗi vị 12g; tử uyển, bách bộ, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 3: Bách bộ, mạch môn, sa sâm, mỗi vị 8g, cát cánh 6g; kinh giới, cam thảo, tử uyển, mỗi vị 4g, trần bì 2g. Sắc uống ngày một thang.
Tác giả: GS. Đoàn Thị Nhu
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

TẮM THUỐC CHỮA BỆNH


Dược dục liệu pháp là gì?

Về cơ bản, có thể hiểu dược dục liệu pháp là phương pháp cho thêm vào nước thường hoặc trực tiếp sử dụng dịch thuốc Y học cổ truyền làm nước để tắm rửa toàn thân hay cục bộ nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Đây là một trong những phương pháp chữa ngoài của Y học cổ truyền (ngoại trị) được tiến hành theo lý luận của Đông y, kết hợp tác dụng của hai liệu pháp: thủy trị liệu và dược vật trị liệu. Về danh pháp tiếng Việt, xin tạm gọi là phương pháp tắm thuốc.
Ảnh minh họa (corbis)
Dược dục liệu pháp có từ bao giờ?

Dược dục liệu pháp có một lịch sử rất lâu đời. Ở Trung Quốc, sách “Lã ký” đã viết: “Đầu hữu nang tắc mộc, thân hữu bệnh tắc dục” (đầu bị lở loét nên gội, thân mình có bệnh nên tắm). Y thư cổ “Hoàng Đế nội kinh” cũng đã bàn đến dược dục liệu pháp trong nhiều chương mục. Ví như chương “Âm dương ứng tượng đại luận” đã viết: “Kỳ hữu và giả, tứ hình dĩ vi hãn”, ý muốn nói: nếu bị ngoại tà xâm nhập nên tắm ngâm làm cho ra mồ hôi để tà khí theo đó mà ra ngoài. Đặc biệt, trong những y thư chuyên khảo về vấn đề này phải nói đến cuốn “Lý thược biền văn” của y gia Ngô Sư Cơ, đại biểu lỗi lạc của dược dục liệu pháp. Tác phẩm này đã đề cập một cách có hệ thống từ cơ sở, lý luận đến kinh nghiệm thực tiễn trong việc vận dụngdược dục liệu pháp để điều trị khá nhiều chứng bệnh thuộc các chuyên khoa, với 79 phương thuốc tắm ngâm độc đáo.

Ở nước ta, kinh nghiệm dân gian sử dụng dược dục liệu pháp cũng khá phong phú. Việc dùng nước sắc cây cỏ tắm ngâm để điều trị các chứng thấp khớp, dị ứng lở ngứa, trĩ hạ… cũng đã được lưu truyền trong dân gian từ rất sớm. Trong các tác phẩm của mình, danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông cũng đã ghi chép lại khá nhiều các kinh nghiệm sử dụng dược dục liệu pháp trong phòng chống bệnh tật và bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, chúng ta không có những y thư chuyên bàn về vấn đề này một cách có hệ thống.

Dược dục liệu pháp có mấy loại?

Tùy theo phần thân thể ngâm trong dịch thuốc nhiều hay ít người ta thường chia làm 3 loại: toàn thân dược dục, bán thân dược dục và cục bộ dược dục.

Toàn thân dược dục: là cách ngâm toàn bộ cơ thể trong dịch thuốc được chứa trong bồn có dung tích 250-300 lít từ 20-30 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Thường dùng cho các bệnh lý nội khoa và da liễu.

Bán thân dược dục: là cách ngâm nửa dưới cơ thể trong dịch thuốc, bệnh nhân ngồi tới rốn. Mỗi lần ngâm trong 20 -30 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Loại này thường dùng cho các bệnh lý chi dưới như: viêm khớp gối, viêm tắc động mạch chân, liệt bại hai chân.

Cục bộ dược dục: là cách ngâm chi thể hoặc một bộ phận của cơ thể trong dịch thuốc hay tiếp xúc với dịch thuốc nhiều lần. Tùy theo cách thức và bộ phận được ngâm khác nhau mà phân thành nhiều loại ngâm như: tay, chân, ngâm tứ chi, ngâm đầu, rửa mắt, rửa mặt… ví dụ ngâm chân (tức dục) là loại bình thường dùng trên lâm sàng, được chia làm 2 hình thức, ngâm chân thấp và ngâm chân cao.

Cơ chế tác dụng dược dục liệu pháp

Dược dục liệu pháp tác động lên cơ thể thông qua 2 yếu tố: tác dụng của thuốc và tác dụng của nước.

Trải qua quá trình bào chế, đun nấu các loại chất có tác dụng chữa bệnh trong dược liệu sẽ hòa tan vào nước hoặc tỏa ra theo hơi nước tác động trực tiếp lên da và niêm mạc hoặc ngấm vào trong cơ thể phát huy tác dụng chữa bệnh. Tác động trực tiếp bên ngoài thường được ứng dụng cho các bệnh lý ngoài da, bệnh vùng hậu môn và bộ phận sinh dục ngoài, bệnh mắt, các thương tổn phần mềm do sang chấn… nhờ khả năng sát khuẩn, tiêu viêm, giảm đau, chống phù nề, chống ngứa… của dịch thuốc. Hoạt chất ngấm vào trong cơ thể thông qua 2 con đường: ngấm qua niêm mạc mũi miệng do hít hơi thuốc và thẩm thấu qua da. Tác động bên trong chủ yếu được ứng dụng cho các bệnh lý nội khoa. Tuy nhiên, cả 2 con đường tác động bên ngoài và tác động bên trong ít khi thực hiện riêng rẽ mà thường hiệp đồng tương hỗ với nhau.

Nước tác động lên cơ thể nhờ 2 yếu tố: nhiệt độ và áp lực. Độ ấm của dịch thuốc có tác dụng làm giãn mạch toàn thân và tại chỗ, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, cải thiện công năng hấp thu của da, làm giảm cơ và giảm đau. Đối với các vết thương xung huyết kỳ đầu nếu ngâm trong dịch thuốc lạnh có khả năng làm co mạch và giảm xuất tiết. Áp lực của nước có tác dụng xoa bóp các bộ phận được ngâm, thúc đẩy quá trình hồi lưu của máu và dịch bạch huyết, làm giảm sưng nề và giảm đau.

Ngoài ra, theo quan niệm của Y học cổ truyền, dịch thuốc còn tác động lên các huyệt vị châm cứu, phối hợp với các động tác xoa bóp khi ngâm sẽ giúp cho cơ thể điều chỉnh cân bằng âm dương, phục hồi công năng của các tạng phủ và làm lưu thông huyết mạch.

Những vấn đề cần chú ý

Thực tế cho thấy, dược dục liệu pháp có tính an toàn cao và hầu như không có tác dụng phụ. Tuy nhiên, trong khi thực hành cần chú ý mấy điểm sau đây:

Những người bị bệnh cao huyết áp, xơ vữa động mạch, suy mạch vành, u mạch máu, suy tim, tiền sử đã bị nhồi máu cơ tim, cơ địa đã xuất huyết không nên tắm, ngâm toàn thân trong dịch thuốc có nhiệt độ trên 390C.

Phụ nữ đang hành kinh và người bị dị ứng với dịch thuốc không nên thực hành dược dục liệu pháp.

Trước và sau bữa ăn ít nhất 30 phút không nên tắm ngâm toàn thân. Trước khi ngủ không nên thực hành

Dược dục liệu pháp. Chú ý tránh tắm ngâm quá lâu, mùa đông cần đề phòng cảm lạnh.

Tác giả: ThS. Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

CÂY DÂU VÀ CÁC BÀI THUỐC

Việc vội vàng động phòng khi kinh nguyệt chưa dứt dễ sinh chứng toàn thân đau nhức như dùi đâm. Nên dùng lá dâu già và lược gãy, nệm rách, tóc rối lượng bằng nhau, đem đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đồng cân (khoảng 12 g) với nước nóng thì khỏi.

Bổ huyết, dưỡng huyết 
Phù tang chí bảo là một bài thuốc hay đã được đề cập đến trong nhiều y thư cổ. Uống ba tháng thì thân thể mọc đầy mụn do sức thuốc đẩy ra; sau đó khắp mình sẽ tươi sáng, da dẻ mịn màng. Nếu uống liên tục nửa năm, khí lực trở nên mạnh mẽ, bệnh tật dần dần tiêu tan. Trường kỳ uống mãi thì gân cốt rắn chắc, khí huyết dồi dào, rõ tai, sáng mắt, tinh thần khoan khoái, tăng thêm tuổi thọ.
Chọn lá dâu non, hái lúc mặt trời mọc, rửa sạch bụi phấn, phơi nắng cho khô. Vừng đen phân nửa, xát tróc vỏ, đem đồ chín “cửu chưng cửu sái” (có nghĩa là chín lần đồ, chín lần phơi), cùng lá dâu tán bột, có thể đem xay nhỏ, cho luyện mật làm thành viên hoàn.
Cũng hai vị thuốc này, Tuệ Tĩnh còn dùng nấu với nước vo gạo để gội đầu, chỉ 7 lần mà tóc dài được vài “thước”! Nếu đúng như vậy thì bài thuốc này có tác dụng kích thích mọc tóc.

Chữa thong manh, đau mắt
Tuệ Tĩnh cũng giới thiệu dùng chữa chứng thong manh bằng lá dâu tươi đem về giã nát, phơi khô, đốt thành than, nấu lấy nước mà rửa mắt. Xưa có người thong manh đến 20 năm mà đã chữa khỏi bằng bài thuốc này.
Để chữa đau mắt gió hay chảy nước mắt: Lá dâu hái vào tháng chạp, hãm lấy nước mà rửa hàng ngày.

Chữa hen suyễn lâu ngày
Lá dâu già, lá thầu dầu già, trấu sao mật, các vị tán nhỏ, thắng mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống một viên với nước sôi. Bài thuốc này được Tuệ Tĩnh cho là rất hay.

Chữa huyết áp cao

Cây dâu
Lá dâu bánh tẻ một nắm nhỏ, cá diếc sống một con. Đem cá diếc bỏ vào châu pha nước muối cho nhả hết nhớt, không mổ, để nguyên con đem luộc, gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu mà ăn.
Hoặc: Vỏ rễ dâu 15,5 g, sinh địa 9 g, hoài sơn (củ mài) 15,5 g, phục linh 6 g, mẫu đơn bì 9 g, tri mẫu 15,5 g, sa sâm bắc 15,5 g, táo ta 10 g, mai rùa 10 g, thạch xương bồ 6 g, huyền sâm 15,5 g, đương quy 6 g, hà thủ ô đỏ 10 g, hoàng cầm 6 g. Sắc uống ngày một thang. Uống liên tục 2-3 tháng.
Hoặc: Trai sông 50-100 g, lá dâu tươi 20 g thái nhỏ, nấm hương 20 g, hành củ khô 2-3 củ. Nấu cháo ăn hàng ngày, có tác dụng hạ huyết áp tốt. Bài thuốc này thích hợp với người già bị tăng huyết áp và u xơ tiền liệt tuyến có các dấu hiệu tiểu không thông, tiểu đêm, tiểu nhiều lần… Đặc biệt là người tăng huyết áp bị chứng “trên bảo dưới chẳng chịu nghe” thì cũng nên dùng.

Tẩy sán 
Lấy dao tre cạo lấy vỏ trắng ở cành dâu 3 nắm, nước 3 bát sắc lấy 1 bát. Tối hôm trước phải nhịn ăn, sáng mai bụng đói thì uống, sán sẽ xuống hết. Uống 2-3 lần.

Chữa tiểu buốt, nước tiểu đục
Tổ bọ ngựa trên cây dâu, mỗi lần chỉ cần một cái nướng khô, tán nhỏ, uống với rượu lúc đói, nặng thì uống 2-3 lần là khỏi. Chuyên trị chứng “cao lâm” tiểu buốt. Ngài tằm bỏ đầu, chân, cánh, sấy khô, tán nhỏ, giã với cơm vo thành viên bằng hạt ngô đồng, uống với nước muối lúc đói, chữa được nước tiểu đục, trắng.

Chữa viêm họng
Mộc nhĩ cây dâu lấy vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, thứ trắng như vẩy cá, giã nhỏ, lấy lụa bọc lại thành viên, tẩm mật ngậm, có tác dụng chữa bệnh viêm họng.

Đọt dâu non một nắm, giã nhỏ đắp vào chỗ vú sưng, lấy giấy dấp nước đắp ngoài, khi khô lại thay, hết viêm thì thôi.

Chữa thiếu máu, mất ngủ

Quả dâu chín ngâm với đường (hoặc mật ong), mỗi ngày pha nước uống. Uống liên tục trong nhiều ngày càng tốt. Nếu mất ngủ, nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ.


Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

MÓN ĂN BỔ DƯỠNG MÀ LẠI CHỐNG ĐƯỢC BỆNH TẬT


Dương thận vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tủy, thường được dùng để chữa các chứng thận lao hư tổn, lưng đau gối mỏi, tai ù, tai điếc, liệt dương, di hoạt tinh, yếu sinh lý, đi tiểu đêm nhiều lần... Dương thận thường được sử dụng dưới dạng kết hợp với một số thực phẩm hay dược liệu để chế biến thành những món ăn - bài thuốc hấp dẫn vừa có công dụng bổ dưỡng lại vừa có tác dụng phòng chống bệnh tật. Dưới đây, xin giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

Bài 1: Dương nội thận 1 quả, thịt dê 60g, lá Kỷ tử 250g (có thể thay bằng Kỷ tử 100g), Gạo tẻ 60 - 90g, Hành củ và gia vị vừa đủ. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; thịt dê rửa sạch, thái quân cờ; sắc kỹ Kỷ tử rồi bỏ bã lấy nước, cho Thận và Thịt dê vào ninh nhừ với Gạo thành cháo, nêm gia vị vừa đủ, chia ăn vài lần trong ngày. 

Công dụng: Bổ thận âm, ích thận khí, tráng nguyên dương, dùng trị các chứng lưng đau gối mỏi, tai ù, di niệu do thận hư, nam giới liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.

Bài 2: Dương nội thận (tinh hoàn) 1 quả, Nhục thung dung 30g. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; Nhục thung dung tẩm rượu một đêm rồi thái lát, đem hầm cùng với dương thận, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng. 

Công dụng: Bổ thận tráng dương, nhuận tràng thông tiện, dùng cho những người bị liệt dương, yếu sinh lý, táo bón do mệnh môn hỏa suy.

Bài 3: Dương ngoại thận 1 đôi, nước hầm xương lợn 1 bát, tủy lợn một đoạn, gia vị vừa đủ. Dương ngoại thận rửa sạch, thái miếng; đun nước hầm xương lợn cùng với gia vị và tủy lợn trong 15 phút, sau đó cho dương ngoại thận vào đun thêm chừng 3 phút là được, múc ra bát, ăn nóng. 

Công dụng: Ích tinh, trợ dương, bổ thận, được dùng để chữa các chứng muộn con, liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, đau lưng mỏi gối, suy giảm ham muốn tình dục, suy nhược cơ thể...

Bài 4: Dương nội thận 1 đôi, Nhục thung dung 25g, Thảo quả 5g, Trần bì 5g, Mỡ dê 100g, gia vị vừa đủ. Thận dê làm sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; mỡ dê thái miếng; sắc kỹ các vị thuốc rồi bỏ bã lấy nước, đem hầm với thận và mỡ dê, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng. 

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ôn trung kiện tỳ, nhuận tràng thông tiện, được dùng để chữa các chứng liệt dương, di hoạt tinh, đau lưng mỏi gối, tay chân lạnh, táo bón do thận dương hư.

Bài 5: Dương ngoại thận 1 đôi, Nhung hươu 3g, Rượu trắng 500ml. Dương ngoại thận tươi (lấy từ dê núi là tốt nhất), rửa sạch huyết rồi đem ngâm cùng Nhung hươu với Rượu trắng chừng 15 ngày là được, mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20ml, kiêng hành, gừng, tỏi và hạt tiêu. 

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ích tinh dưỡng huyết, dùng để chữa chứng liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, tinh dịch lạnh loãng, suy giảm số lượng và chất lượng tinh trùng...

Bài 6: Dương nội thận 1 quả, Bạch tật lê sao qua 120g, Long nhãn 120g, Dâm dương hoắc 120g, Tỏa dương 120g, Ý dĩ 120g. Tất cả đem ngâm với rượu trắng chừng 15 ngày, mỗi ngày uống 20ml. 

Công dụng: Ôn thận tráng dương, ích tinh bổ tủy, khu phong trừ thấp, dùng trị các chứng liệt dương, di mộng tinh, tinh lạnh, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc ở người già do thận hư.

Theo quan niệm của Y học cổ truyền, một trong những chức năng quan trọng của tạng thận là chủ về sinh dục. Dê lại là một trong những loài động vật có khả năng hoạt động sinh dục mạnh mẽ và bền bỉ, bởi vậy, quả thận và tinh hoàn của dê đã được người xưa sử dụng làm thức ăn và làm thuốc để chữa trị các chứng bệnh thuộc hệ sinh dục từ rất sớm. Đây là một trong những ví dụ điển hình của việc áp dụng học thuyết “dĩ tạng bổ tạng”, “dĩ tạng liệu tạng” (lấy tạng để bồi bổ và chữa bệnh của tạng) trong Y học cổ truyền.

Tác giả: Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: Theo Suc khoe & Doi song

DƯỢC LIỆU TRỊ GAN

Nhó đông (Morinda longissima Y.Z.Ruan) thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang rải rác ở ven rừng thứ sinh hoặc ở trên nương rẫy cũ với độ cao dưới 800m. Thường gặp ở Sơn La, Lào Cai, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế.
Bộ phận dùng làm thuốc của cây nhó đông là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đào về, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Dược liệu có vị đắng, màu vàng, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kiện tỳ, hoạt huyết, tiêu viêm, tán ứ, chữa viêm gan, vàng da, xơ gan, được dùng dưới các dạng thuốc sau:
- Nước sắc: dược liệu nhó đông 20 - 30g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Rễ nhó đông tốt cho gan 1
- Cao mềm: lấy 1kg rễ nhó đông thái mỏng, đổ nước xâm xấp, nấu kiệt làm 2 lần. Lần thứ nhất nấu trong 6 - 8 giờ, rút nước. Lần thứ hai trong 3 - 4 giờ. Trộn hai nước lại cô nhỏ lửa thành cao mềm. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 - 4g.
Ngoài ra, còn dùng dạng cốm được bào chế từ cao nhó đông trộn với đường. Thuốc giúp người bệnh ăn ngủ tốt, hết vàng da, vàng mắt, đầy bụng.
Đồng bào ở xã Chiềng An, thị xã Sơn La còn dùng rễ hoặc thân già (phần sát gốc rễ của cây nhó đông phối hợp với rễ cây hé mọ (Psychotria) để chữa viêm đại tràng với kết quả tốt.
Nguồn: suckhoedoisong.vn